Tutorial · 03/11/2026
Giấy vẽ truyện tranh, giấy vẽ manga: khổ giấy, định lượng, khung an toàn và cách chọn

Giấy vẽ truyện tranh (giấy manga) khổ B4 257 × 364 mm hay A4, ba đường kẻ xanh: cắt tràn, hoàn thiện, khung cơ bản 180 × 270 mm; định lượng và mặt giấy hợp bút nào; canvas vẽ số ở 600 DPI; cách tự kẻ khung trên A4 và checklist chọn mua.
Giấy vẽ truyện tranh (giấy vẽ manga, giấy bản thảo) là loại giấy trơn, dày hơn giấy in văn phòng, có in sẵn ba đường kẻ xanh nhạt: đường cắt tràn, đường hoàn thiện và khung cơ bản. Khổ hay gặp nhất là B4 (257 × 364 mm) cho bản thảo vẽ tay và A4 cho truyện in khổ nhỏ; sách in ra thường là B5 hoặc A5. Nếu vẽ trên máy, đặt canvas theo khổ in ở 600 DPI cho trang đen trắng, và tính số pixel bằng công cụ Khổ giấy và số pixel của ColorME.
| Bạn cần | Chọn |
|---|---|
| Vẽ tay bản thảo truyện, dự thi | Giấy manga B4 có kẻ khung, khung cơ bản 180 × 270 mm |
| Vẽ truyện ngắn để tự in khổ A5 hoặc B5 | Giấy manga A4, hoặc A4 dày tự kẻ khung |
| Đi nét bằng bút ngòi, bút kim | Mặt giấy trơn: giấy manga, giấy Kent, Bristol mặt plate |
| Tô màu nước, marker | Giấy màu nước hoặc giấy riêng cho marker, không dùng giấy manga mỏng |
| Vẽ trên máy tính, iPad | Canvas theo khổ in ở 600 DPI (đen trắng) hoặc 350 DPI (màu) |

Tờ giấy manga B4 vẽ đúng tỉ lệ, với các đường kẻ xanh in sẵn. Ảnh minh hoạ do ColorME dựng từ số đo được dẫn nguồn trong bài.
Bài này dành cho người đi làm muốn bắt đầu vẽ truyện tranh hoặc manga nghiêm túc: hiểu tờ giấy trước khi mua, chọn đúng khổ, đúng độ dày, biết bút nào hợp mặt giấy nào, và nếu vẽ số thì đặt canvas bao nhiêu pixel. Nếu bạn mới cầm bút vẽ anime, nên đọc trước cách vẽ anime cho người mới bắt đầu rồi quay lại đây khi đã muốn ghép tranh thành trang truyện.
Giấy vẽ manga là gì, khác gì giấy A4 thường?
Giấy vẽ manga (tiếng Nhật gọi là giấy bản thảo, manga genkō yōshi) là tờ giấy dùng để vẽ trang truyện hoàn chỉnh trước khi đem in. Trang hướng dẫn của Clip Studio Paint mô tả giấy bản thảo bán ở cửa hàng hoạ cụ có khung trong và dấu cắt in sẵn màu xanh nên dễ dùng hơn giấy trắng (clipstudio.net, đọc ngày 03/11/2026).
So với giấy in văn phòng, giấy manga khác ở ba điểm:
- Có khung kẻ sẵn. Ba đường xanh nhạt cho biết chỗ nào sẽ bị xén khi đóng sách, chỗ nào an toàn để đặt thoại và gương mặt. Viền ngoài thường có thước chia mm để kẻ khung tranh cho thẳng.
- Dày và trơn hơn. Giấy văn phòng phổ biến là 80 g/m² (Wikipedia, Grammage). Giấy vẽ truyện dày hơn để mực đen tô kín một mảng lớn mà giấy không gợn sóng, không thấm sang mặt sau.
- Khổ theo chuẩn in sách Nhật. B4, B5 trên giấy manga là khổ B của Nhật (JIS), hơi lớn hơn khổ B quốc tế. Phần dưới nói kỹ.
Bạn hoàn toàn có thể vẽ truyện trên giấy A4 trắng thường để luyện. Giấy manga chỉ thật sự cần khi bạn muốn trang vẽ ra in được đúng khổ, hoặc gửi bản thảo dự thi theo thể lệ.
Ba đường kẻ xanh trên giấy vẽ truyện tranh: cắt tràn, hoàn thiện, khung an toàn
Trang hướng dẫn manga của ibisPaint gọi tên ba đường từ trong ra ngoài là khung trong (inner frame), kích thước hoàn thiện (final size) và đường cắt tràn của bản thảo (bleed width). Thoại và các chi tiết quan trọng như gương mặt nhân vật nên nằm trong khung trong; khi muốn tranh tràn ra mép trang thì vẽ tới đường cắt tràn, để lúc xén giấy bị lệch cũng không hở viền trắng (ibispaint.com, đọc ngày 03/11/2026).

Sơ đồ đúng tỉ lệ của tờ B4 257 × 364 mm. Đường cắt tràn 220 × 310 mm và khung cơ bản 180 × 270 mm theo thông số một loại giấy B4 mà b4comics.com nêu. Ảnh minh hoạ do ColorME dựng.
| Đường kẻ | Tên khác | Dùng để làm gì |
|---|---|---|
| Khung cơ bản (khung trong) | kihon waku, inner frame | Vùng an toàn: thoại, chữ, gương mặt, chi tiết quan trọng. Khung tranh thường bám theo đường này. |
| Đường hoàn thiện | final size, trim | Mép trang sách sau khi xén. A5 thì khung này là A5, B5 thì là B5. |
| Đường cắt tràn | tachikiri, bleed | Vẽ tràn tới đây khi muốn hình chạm mép trang. Phần ngoài đường hoàn thiện sẽ bị xén. |
Với tờ B4, số đo phổ biến của khung cơ bản là 180 × 270 mm. Một trang tổng hợp cuộc thi trên japandesign.ne.jp ghi thể lệ của một tạp chí manga: bản vẽ tay gửi bưu điện phải vẽ trên giấy B4 với khung cơ bản dọc 270 × ngang 180 mm, chừa lề quanh ít nhất 20 mm, và dùng mực đen (compe.japandesign.ne.jp, đọc ngày 03/11/2026). Đường cắt tràn trên tờ B4 trong sơ đồ là 220 × 310 mm, theo thông số giấy mà b4comics.com nêu.
Đường hoàn thiện nằm giữa hai đường kia. Clip Studio cho biết phần tràn ngoài đường hoàn thiện thường là 3 đến 5 mm, tuỳ nhà in yêu cầu. Mỗi hãng giấy in đường này hơi khác nhau, nên bài không ghi một con số cố định: hãy đọc số in ngay trên tập giấy bạn dùng.
Nếu bạn đã quen file in ấn, đây chính là chuyện tràn lề và vùng an toàn trong thiết kế, chỉ khác là in sẵn trên giấy. Bài file in tràn lề, bleed và crop marks giải thích cùng logic cho file thiết kế.
Khổ giấy vẽ truyện tranh: B4, A4, B5, A5 khác nhau thế nào?
Có hai câu hỏi hay bị trộn vào nhau: khổ tờ giấy để vẽ và khổ trang sách sau khi in. Tờ bản thảo vẽ tay B4 lớn hơn trang sách in B5 hay A5, nên khi in, hình được thu nhỏ lại và nét trông mảnh, gọn hơn.

Bốn khổ giấy hay gặp khi vẽ truyện, vẽ đúng tỉ lệ với nhau. Số đo theo Wikipedia "Paper size", đọc ngày 03/11/2026. Ảnh minh hoạ do ColorME dựng.
| Khổ | Kích thước (mm) | Chuẩn | Thường dùng |
|---|---|---|---|
| B4 | 257 × 364 | JIS (Nhật) | Tờ bản thảo vẽ tay, bản dự thi |
| A4 | 210 × 297 | ISO 216 | Bản thảo cho truyện in khổ nhỏ, in thử |
| B5 | 182 × 257 | JIS (Nhật) | Khổ trang tạp chí, sách truyện |
| A5 | 148 × 210 | ISO 216 | Sách nhỏ, truyện tự in |
| B4, B5 quốc tế | 250 × 353; 176 × 250 | ISO 216 | Ít gặp trên giấy manga |
Các số trên lấy từ bảng ISO 216 và bảng khổ B của Nhật trên Wikipedia, Paper size (đọc ngày 03/11/2026). Chỗ dễ nhầm: khi một cửa hàng ghi "giấy B4" cho giấy manga, đó gần như luôn là B4 Nhật 257 × 364 mm, không phải B4 quốc tế 250 × 353 mm. Chênh 7 mm chiều ngang và 11 mm chiều dọc nghe nhỏ, nhưng đủ làm khung kẻ của bạn lệch khi đặt chồng lên tờ mẫu.
Cách chọn nhanh:
- Mới bắt đầu, vẽ truyện ngắn vài trang: A4. Dễ tìm, dễ scan bằng máy scan văn phòng, đủ chỗ cho 4 đến 6 khung tranh.
- Muốn luyện theo cỡ bản thảo chuyên nghiệp, hoặc dự thi: B4. Tờ to hơn cho phép vẽ chi tiết, nhưng cần bàn rộng và máy scan khổ lớn (hoặc scan làm hai lần rồi ghép).
- Vẽ đúng cỡ in để tự in sách nhỏ: vẽ trực tiếp khổ B5 hoặc A5 trên tờ A4 có kẻ khung. Cách tự kẻ ở phần dưới.
Bảng đầy đủ khổ A0 đến A6 kèm số pixel khi in có trong bài khổ giấy A4, A3, A5 và số pixel để in.

Trang sách thành phẩm là khổ hoàn thiện (B5, A5...), nhỏ hơn tờ bản thảo. Ảnh: Ranurte / Unsplash.
Giấy vẽ manga định lượng bao nhiêu gsm, mặt giấy nào hợp bút nào?
Định lượng (gsm, g/m²) là khối lượng của một mét vuông giấy: số càng lớn, giấy càng dày và nặng. Nếu bạn chưa quen khái niệm này, bài định lượng giấy gsm là gì giải thích kỹ kèm ví dụ in ấn. Với giấy vẽ truyện, độ dày chỉ là một nửa câu chuyện; nửa còn lại là mặt giấy.

Sáu loại giấy hay gặp khi vẽ truyện, định lượng và mặt giấy. Số liệu theo các trang Wikipedia ghi ở chân ảnh. Ảnh minh hoạ do ColorME dựng.
- Giấy in văn phòng 80 g/m²: dùng để phác thảo, chia khung nháp (thumbnail). Tô mảng đen lớn thì giấy gợn và mực thấm sang mặt sau.
- Giấy manga, giấy Kent: mặt trơn, ít xơ, chịu được mực đen và tẩy chì nhiều lần. Một thể lệ thi manga khác yêu cầu dùng giấy Kent, giấy chất lượng cao loại dày, hoặc giấy bản thảo manga bán sẵn, khổ B4, chỉ vẽ một mặt bằng mực đen (compe.japandesign.ne.jp, đọc ngày 03/11/2026).
- Bristol: theo Wikipedia, Bristol board, loại bìa này ở châu Âu thường có định lượng 220 đến 250 g/m², dùng nhiều cho tranh truyện và minh hoạ, vẽ được cả hai mặt. Mặt plate trơn láng, rất hợp bút mực; mặt vellum nhám vừa, hợp chì, than, sáp màu.
- Giấy màu nước: Wikipedia ghi ba mức truyền thống 90, 140 và 300 lb, với ba kiểu mặt ép nóng (trơn), ép nguội (có vân) và rough (sần) (Watercolor paper). Theo cách tính lb của giấy màu nước, 140 lb vào khoảng 300 g/m².

Mặt giấy màu nước có vân giữ nước và cho vệt loang mềm, nhưng làm nét bút kim bị gợn. Ảnh: Jo Hellboy / Unsplash.
Bút, mực nào loe trên giấy nào?
Không cần nhớ tên hãng, chỉ cần nhớ nguyên tắc: mực càng lỏng và giấy càng xốp, nét càng dễ loe.
| Dụng cụ | Giấy hợp | Dễ gặp lỗi khi |
|---|---|---|
| Bút ngòi chấm mực (G-pen, ngòi tròn) | Giấy manga, Kent, Bristol plate | Giấy mỏng, xốp: ngòi cào xơ giấy, mực loe thành vệt |
| Bút kim (fineliner) mực pigment | Hầu hết giấy trơn | Giấy màu nước có vân: nét bị đứt quãng |
| Bút lông, bút brush mực nước | Giấy manga dày, Bristol | Giấy 80 g/m²: gợn sóng, thấm mặt sau |
| Marker cồn | Giấy riêng cho marker, Bristol | Giấy mỏng: thấm xuyên sang tờ bên dưới |
| Màu nước, mực pha loãng | Giấy màu nước | Giấy manga: cong vênh, đọng vệt |
Thói quen đáng giữ: trước khi vẽ trang thật, kẻ vài nét bằng đúng cây bút đó ở góc ngoài đường cắt tràn, để khô, rồi thử tẩy chì lên nét mực. Nếu nét nhoè khi tẩy, bạn cần chờ lâu hơn hoặc đổi giấy. Danh sách dụng cụ cho người mới có trong bài dụng cụ vẽ cho người mới cần mua gì.

Nét đan mảnh và dày đặc như thế này cần mặt giấy trơn để từng nét không loe vào nhau. Tranh: Guang Hui Chan · nguồn: ghim Pinterest (tài khoản của hoạ sĩ)
Vẽ truyện tranh trên máy: canvas bao nhiêu pixel ở 600 DPI?
Khi vẽ bằng phần mềm, bạn không mua giấy nhưng vẫn phải chọn "khổ giấy": kích thước canvas tính bằng pixel. Công thức ibisPaint đưa ra: kích thước thật (mm) ÷ 25,4 × DPI = số pixel. Ví dụ của họ là trang B5 182 × 257 mm ở 350 DPI cho ra 2508 × 3541 px.
Về độ phân giải, ibisPaint khuyên 350 DPI cho trang màu và 600 DPI trở lên cho trang xám hoặc đen trắng, vì cạnh răng cưa dễ lộ hơn ở tranh đen trắng và để tram (screentone) không bị vân moiré khi in. Clip Studio cũng ghi 600 DPI là tốt nhất khi gửi file bản thảo cho nhà in. Thể lệ cuộc thi ở trên khuyên bản vẽ số đen trắng 2 màu từ 600 DPI.

Số pixel ở 600 DPI cho các khổ hay dùng, tính theo công thức của ibisPaint và đối chiếu với công cụ Khổ giấy của ColorME. Ảnh minh hoạ do ColorME dựng.
| Khổ | mm | 600 DPI (đen trắng) | 350 DPI (màu) |
|---|---|---|---|
| B4 (JIS) | 257 × 364 | 6071 × 8598 px | 3541 × 5016 px |
| A4 | 210 × 297 | 4961 × 7016 px | 2894 × 4093 px |
| B5 (JIS) | 182 × 257 | 4299 × 6071 px | 2508 × 3541 px |
| B5 + tràn 3 mm mỗi cạnh | 188 × 263 | 4441 × 6213 px | 2591 × 3624 px |
| A5 | 148 × 210 | 3496 × 4961 px | 2039 × 2894 px |
| A5 + tràn 3 mm mỗi cạnh | 154 × 216 | 3638 × 5102 px | 2122 × 2976 px |
Hai lưu ý thực tế:
- Canvas lấy theo khổ in, không theo khổ tờ bản thảo. Nếu truyện in khổ B5, đặt canvas B5 (cộng tràn lề) ở 600 DPI là đủ nét, không cần dựng canvas B4 rồi thu nhỏ như khi vẽ tay.
- File rất nặng. Trang B4 ở 600 DPI là khoảng 52 megapixel. Máy yếu thì vẽ ở khổ in, đừng phóng to thêm.
Phần mềm vẽ truyện thường có sẵn mẫu canvas truyện kèm ba đường kẻ: xem bài MediBang Paint vẽ truyện tranh trên máy tính, iPad và các phần mềm vẽ truyện tranh trên máy tính.
Tính số pixel bằng công cụ Khổ giấy của ColorME
Công cụ Khổ giấy và số pixel nay có sẵn nút A0 đến A6 và B4, B5 (khổ JIS), nhận cả cỡ riêng và DPI tuỳ chọn. Ảnh và các bước bên dưới chụp ngày 03/11/2026, trước khi công cụ thêm nút B4, B5 nên vẫn dùng ô cỡ riêng; kết quả số pixel giống nhau. Các bước làm trên trang công cụ, không đăng nhập:
- Bấm Tuỳ chỉnh, ô DPI khác gõ 600.
- Ô Cỡ riêng gõ 18,2 × 25,7 cm (B5).
- Bật Cộng tràn lề 3 mm mỗi cạnh.
- Đọc kết quả: 4441 × 6213 px, kèm dòng "đã gồm tràn lề, 18,8 × 26,3 cm". Bấm Chép để dán số vào phần mềm vẽ.

Ảnh chụp màn hình thật của colorme.vn/tools/kho-giay ngày 03/11/2026: cỡ riêng 18,2 × 25,7 cm, 600 DPI, bật tràn lề 3 mm. Với cỡ riêng 25,7 × 36,4 cm (B4) không tràn lề, công cụ cho 6071 × 8598 px.
Mục Tràn lề nay có ba lựa chọn Không, 3 mm và 5 mm: chọn đúng mức nhà in yêu cầu.

Một trang truyện vẽ số với ba hàng khung, tất cả nằm gọn trong lề trắng: kiểu bố cục an toàn, không cần vẽ tràn ra mép. Tranh: Reno Nogaj · nguồn: ghim Pinterest (dự án "Sideways" trên Behance)
Cách tự làm giấy kẻ khung truyện tranh trên A4
Không mua được giấy manga đúng ý, bạn vẫn có thể tự làm một tờ mẫu kẻ khung rồi dùng lại nhiều lần. Ví dụ dưới đây vẽ một trang B5 đúng cỡ in trên tờ A4 dày:

Sơ đồ đúng tỉ lệ: trang B5 căn giữa tờ A4. Khoảng lùi 15 mm của khung trong là ví dụ, không phải chuẩn. Ảnh minh hoạ do ColorME dựng.
- Kẻ đường hoàn thiện 182 × 257 mm căn giữa tờ A4 210 × 297 mm: cách mép trái và phải 14 mm, cách mép trên và dưới 20 mm.
- Kẻ đường cắt tràn ra ngoài 3 mm mỗi cạnh, thành 188 × 263 mm. Hỏi nơi in họ cần 3 hay 5 mm trước khi kẻ.
- Kẻ khung trong lùi vào từ đường hoàn thiện. Ví dụ lùi 15 mm mỗi cạnh được khung 152 × 227 mm. Clip Studio nhắc chú ý phía gáy sách (mép trong): tranh và chữ quá sát gáy sẽ khó đọc khi đóng thành sách.
- Kẻ bằng chì màu xanh nhạt và thước, nét mảnh. Nét xanh nhạt tách khỏi nét mực đen, dễ lọc đi khi scan đen trắng; vẫn nên mở bản scan kiểm tra.
- Đánh số trang (nombre) ở góc ngoài khung, ngoài vùng tranh. Clip Studio ghi số trang là điều bắt buộc khi gửi file cho nhà in.
- Dùng tờ mẫu nhiều lần: đặt tờ mẫu dưới tờ giấy trắng trên bàn đèn để thấy khung, hoặc photocopy tờ mẫu lên giấy dày nếu máy in nhận được loại giấy đó.
Muốn vẽ trực tiếp khổ B4 cho bản dự thi thì làm tương tự trên tờ B4, nhưng lấy đúng khung cơ bản 180 × 270 mm và lề theo thể lệ của nơi bạn gửi.

Trang màu bên trái chia khung, trang phải là một tranh lớn chiếm gần cả trang. Với trang màu, ibisPaint khuyên canvas 350 DPI. Tranh: Maxence Henry và Pauline Giraud (Ultralazer) · nguồn: ghim Pinterest, hồ sơ Behance của nhóm
Ba tranh minh hoạ trong bài là tác phẩm của các hoạ sĩ, tìm qua Pinterest; bản quyền thuộc về tác giả. Các bảng, sơ đồ khổ giấy và đường kẻ do ColorME dựng từ số đo có dẫn nguồn.
Checklist chọn mua giấy vẽ truyện tranh
- Khổ ghi rõ là B4 hay A4, và là B Nhật (257 × 364) hay B quốc tế (250 × 353).
- Có in sẵn đủ ba đường: khung cơ bản, đường hoàn thiện, đường cắt tràn, kèm số đo in trên tờ giấy hoặc bìa tập.
- Khổ hoàn thiện in trên giấy khớp với khổ sách bạn định in (B5 hay A5).
- Định lượng ghi trên bìa, dày hơn rõ rệt so với giấy văn phòng 80 g/m² nếu bạn đi nét mực và tô mảng đen.
- Mặt giấy trơn, ít xơ nếu dùng bút ngòi, bút kim. Tô màu nước hoặc marker thì mua giấy riêng cho loại màu đó.
- Đường kẻ màu xanh nhạt, mảnh, không đậm tới mức hiện lên khi scan.
- Có thước chia mm ở viền để chia khung tranh nhanh.
- Thử trước một tờ: kẻ nét mực, để khô, tẩy chì lên trên, xem mặt sau có thấm không.
- Kiểm tra máy scan của bạn quét được khổ đó không. B4 không vừa máy scan A4.
Nếu bạn muốn học vẽ nhân vật, bố cục khung tranh và tô màu số có người hướng dẫn, khoá Digital Painting của ColorME đi từ nền tảng tới tranh hoàn chỉnh. Phần chữ thoại và hiệu ứng âm thanh trong trang truyện có bài riêng về font chữ truyện tranh có tiếng Việt.
Câu hỏi thường gặp về giấy vẽ truyện tranh
Giấy vẽ truyện tranh khổ bao nhiêu?
Phổ biến nhất là B4 Nhật 257 × 364 mm cho bản thảo vẽ tay và A4 210 × 297 mm cho truyện in khổ nhỏ. Trang sách in ra thường là B5 182 × 257 mm hoặc A5 148 × 210 mm.
Giấy vẽ manga khác giấy A4 thường thế nào?
Giấy manga dày và trơn hơn giấy văn phòng 80 g/m², chịu được mực đen tô kín, và có in sẵn ba đường kẻ xanh nhạt: đường cắt tràn, đường hoàn thiện và khung cơ bản để đặt thoại, gương mặt an toàn.
Khung cơ bản trên giấy manga B4 là bao nhiêu?
Số đo thường gặp là 180 × 270 mm. Thể lệ một cuộc thi manga ở Nhật được dẫn trong bài yêu cầu đúng khung dọc 270 × ngang 180 mm trên giấy B4 và chừa lề ít nhất 20 mm.
Vẽ truyện tranh dùng giấy bao nhiêu gsm?
Không có một con số chung. Hãy chọn giấy dày hơn rõ rệt so với giấy văn phòng 80 g/m² nếu đi nét mực; bìa Bristol thường 220 đến 250 g/m². Mặt giấy quan trọng không kém: mặt trơn cho bút mực, mặt nhám cho chì và than.
Vẽ manga trên máy tính nên đặt canvas bao nhiêu pixel?
Đặt theo khổ in ở 600 DPI cho trang đen trắng, 350 DPI cho trang màu. Ví dụ trang B5 ở 600 DPI là 4299 × 6071 px, cộng tràn lề 3 mm mỗi cạnh là 4441 × 6213 px.
Không có giấy manga thì vẽ truyện trên giấy gì?
Dùng giấy A4 dày, mặt trơn và tự kẻ khung bằng chì xanh nhạt: đường hoàn thiện theo khổ sách định in, đường cắt tràn ra ngoài 3 đến 5 mm, khung trong lùi vào để đặt thoại và gương mặt.
Tác giảCOLOR ME














