Tutorial · 04/11/2026
Ukiyo-e là gì? Sóng lừng ngoài khơi Kanagawa của Hokusai, nét viền, mảng phẳng, màu chàm Prussian và ảnh hưởng tới poster hiện đại

Ukiyo-e là tranh in khắc gỗ Nhật Bản thời Edo, "tranh về thế giới phù du". Cách một bức tranh được làm ra (hoạ sĩ, thợ khắc, thợ in, nhà xuất bản, ván màu, dấu kentō), Sóng lừng ngoài khơi Kanagawa và màu xanh Phổ của Hokusai, Hiroshige, 6 đặc điểm thị giác, Japonisme qua tranh Van Gogh và cách đưa ukiyo-e vào poster hiện đại.
Trả lời nhanh: Ukiyo-e (浮世絵, đọc Hán Việt là "phù thế hội") nghĩa là "tranh về thế giới phù du", dòng tranh Nhật Bản phát triển mạnh từ thế kỷ 17 tới thế kỷ 19, chủ yếu là tranh in khắc gỗ bán cho dân thành thị Edo (Tokyo ngày nay). Một bức ukiyo-e là sản phẩm của bốn người: hoạ sĩ vẽ mẫu, thợ khắc ván, thợ in và nhà xuất bản. Bức nổi tiếng nhất là Sóng lừng ngoài khơi Kanagawa (The Great Wave) của Katsushika Hokusai, in khoảng 1830 đến 1832. Với người làm thiết kế, ukiyo-e là một "giáo trình" về nét viền rõ, mảng màu phẳng, chuyển màu bokashi, bố cục lệch và cắt khung táo bạo, những thứ vẫn thấy trong poster và tranh minh hoạ phẳng hôm nay.
| Thông tin | Ukiyo-e |
|---|---|
| Tên gọi | 浮世絵, ukiyo-e: "tranh thế giới phù du"; tiếng Việt còn gọi là tranh khắc gỗ Nhật Bản, tranh phù thế |
| Thời kỳ | Từ khoảng thập niên 1670 tới cuối thế kỷ 19 (thời Edo, 1603 đến 1867), suy giảm sau Minh Trị duy tân 1868 |
| Kỹ thuật chính | In khắc gỗ bằng tay trên giấy làm tay, mỗi màu một ván; từ thập niên 1760 có tranh in đủ màu nishiki-e dùng từ 10 ván trở lên |
| Đề tài | Mỹ nhân, diễn viên kabuki, đô vật sumo, chuyện lịch sử và dân gian, phong cảnh, hoa và chim (kachō-e) |
| Hai bậc thầy phong cảnh | Katsushika Hokusai (1760 đến 1849) và Utagawa Hiroshige (1797 đến 1858) |
| Ảnh hưởng | Trào lưu Japonisme ở châu Âu: Monet, Degas, Van Gogh, Toulouse-Lautrec, poster cuối thế kỷ 19 |
Nguồn: các bài Ukiyo-e, Woodblock printing in Japan trên Wikipedia tiếng Anh và Ukiyo-e trên Wikipedia tiếng Việt, đọc ngày 04/11/2026. Mọi bản in trong bài là ảnh chụp của bảo tàng, thuộc phạm vi công cộng.

Sóng lừng ngoài khơi Kanagawa (Kanagawa oki nami ura), loạt Ba mươi sáu cảnh núi Phú Sĩ, Katsushika Hokusai, khoảng 1830 đến 1832, tranh in khắc gỗ, 25,7 x 37,9 cm. Hãy nhìn ba thứ: đường viền xanh đậm bao mọi mảng, mảng trời màu giấy gần như phẳng và núi Phú Sĩ rất nhỏ được đặt vào "lòng" con sóng. Ảnh: The Metropolitan Museum of Art (JP1847), phạm vi công cộng.
Ukiyo-e là gì: "tranh về thế giới phù du"
Năm 1603, Edo (Tokyo ngày nay) trở thành nơi đặt chính quyền Mạc phủ Tokugawa. Tầng lớp chōnin gồm thương nhân, thợ thủ công và người làm công, vốn đứng cuối trật tự xã hội, lại hưởng lợi nhiều nhất từ đà phát triển của thành phố. Họ có tiền để đi xem kabuki, vui chơi ở các khu giải trí, và chữ ukiyo ("phù thế", thế giới trôi nổi) được dùng để gọi lối sống hưởng thụ ấy. Tranh ukiyo-e, in hoặc vẽ, là thứ tầng lớp này mua về trang trí nhà (theo Wikipedia tiếng Anh và tiếng Việt).
Những tác phẩm ukiyo-e sớm nhất xuất hiện vào thập niên 1670 với tranh vẽ và tranh in đơn sắc của Hishikawa Moronobu. Màu đến dần dần: thập niên 1740 hoạ sĩ như Okumura Masanobu đã dùng nhiều ván gỗ để in các vùng màu; thập niên 1760, "tranh gấm" (nishiki-e) của Suzuki Harunobu thành công tới mức tranh in đủ màu, dùng từ 10 ván trở lên, trở thành chuẩn chung.
Điều nên nhớ khi xem ukiyo-e: đây là hàng in thương mại, in nhiều bản, bán theo loạt. Từ nửa sau thế kỷ 17, tranh thường được bán thành bộ, mỗi tờ in tên bộ và số thứ tự, để người sưu tầm mua đủ cả bộ. Tới giữa thế kỷ 19, một mẫu tranh có thể in tới hàng nghìn bản. Nói theo ngôn ngữ hôm nay, ukiyo-e gần với poster, bưu thiếp và ấn phẩm in hơn là tranh độc bản treo bảo tàng, và đó là lý do nó hợp với dân thiết kế đến vậy.
Nếu bạn đang tìm hiểu các dòng tranh nói chung, bài hội hoạ là gì, 8 chất liệu và 8 thể loại tranh giúp đặt ukiyo-e vào bức tranh chung: về chất liệu nó là tranh in (đồ hoạ in), về thể loại có cả phong cảnh, chân dung, hoa và chim.
Một bức ukiyo-e được làm ra thế nào
Theo Wikipedia tiếng Anh, hoạ sĩ ukiyo-e hiếm khi tự khắc ván. Công việc chia cho bốn bên, và thường chỉ tên hoạ sĩ và nhà xuất bản được ghi trên tranh:
- Nhà xuất bản đặt hàng, bỏ vốn, quảng bá và phân phối. Họ sở hữu ván khắc, đóng dấu riêng lên tranh, và có lời nhất khi một mẫu bán chạy, vì ván cũ in lại được mà không phải trả thêm cho hoạ sĩ hay thợ khắc.
- Hoạ sĩ vẽ mẫu bằng mực trên giấy mỏng.
- Thợ khắc dán úp tờ mẫu lên ván gỗ anh đào, xoa dầu cho giấy trong ra rồi khắc bỏ mọi chỗ không có nét đen, để lại phần nổi. Tờ vẽ gốc bị huỷ trong quá trình này. Ván in nét đen này thường gọi là ván khoá (key block).
- Thợ in quét mực lên ván, đặt giấy lên rồi miết bằng một dụng cụ cầm tay gọi là baren. Mỗi màu có một ván riêng; để các màu khớp nhau, người ta khắc dấu căn chỉnh gọi là kentō ở một góc và một cạnh của ván.
Vì in bằng tay nên thợ in làm được những hiệu ứng máy móc khó làm: chuyển màu ngay trên ván (bokashi), dập nổi bằng ván không mực để tạo vân vải hay lưới đánh cá, miết giấy bằng đá mã não cho màu bóng lên, rắc bột mica hay kim loại. Ý này quan trọng với designer: mỗi màu trên ukiyo-e là một "lớp" riêng, giống một kênh màu khi in lụa hay một layer trong file vector.
Bộ tranh dưới đây không phải ukiyo-e mà là của hoạ sĩ Mỹ Arthur Wesley Dow, người được Ernest Fenollosa giới thiệu với ukiyo-e khi làm trợ lý giám tuyển sưu tập tranh Nhật ở Bảo tàng Mỹ thuật Boston (từ năm 1893), và ukiyo-e ảnh hưởng lớn tới tranh của ông về sau. Bảo tàng Met giữ được cả bản in thử đời đầu chỉ có ván nét và một màu, đặt cạnh bản in đủ màu của cùng hình, nên nhìn rất rõ các lớp ván chồng lên nhau ra sao.


Trái: Little Venice, bản in thử đời đầu, "ván khoá và một màu" theo ghi chú của bảo tàng. Phải: cùng hình, bản in màu. Hãy nhìn cách mỗi mảng màu là một lần in riêng, có chỗ chồng nhẹ ra ngoài nét. Arthur Wesley Dow, khoảng 1893, tranh khắc gỗ màu, khoảng 12,5 x 5,6 cm. Ảnh: The Metropolitan Museum of Art, 2016.423.1 và 2016.423.2, phạm vi công cộng.
Việt Nam cũng có tranh in khắc gỗ: tranh Đông Hồ. Theo Wikipedia tiếng Việt, ván khắc Đông Hồ có hai loại là ván in nét và ván in màu, tức cùng nguyên lý "một ván nét, nhiều ván màu" như ukiyo-e. Khác biệt dễ thấy nhất nằm ở giấy (giấy điệp óng ánh), màu tự nhiên (đen từ than lá tre, đỏ từ sỏi son, vàng từ hoa hoè...) và đề tài dân gian, Tết. Đặt hai dòng tranh cạnh nhau là một bài tập hay để thấy cùng một kỹ thuật in cho ra hai "giọng" thị giác khác hẳn.
Sóng lừng ngoài khơi Kanagawa (The Great Wave): xem kỹ từng phần
Sóng lừng ngoài khơi Kanagawa (神奈川沖浪裏, Kanagawa-oki nami ura, nghĩa đen "dưới con sóng ngoài khơi Kanagawa"), tiếng Anh thường gọi là The Great Wave off Kanagawa hay gọn là The Great Wave, là tờ đầu tiên trong loạt Ba mươi sáu cảnh núi Phú Sĩ của Hokusai. Wikipedia tiếng Anh ghi Hokusai hoàn tất mẫu vẽ cuối năm 1831; bảo tàng Met ghi niên đại khoảng 1830 đến 1832. Khổ tranh là khổ ngang ōban, khoảng 25 x 37 cm, nhỏ hơn một tờ A3.
Tranh có ba thành phần: biển động, ba chiếc thuyền và một ngọn núi.
- Con sóng. Sóng lớn cuộn thành vòng xoắn có tâm gần tâm tranh, đủ chỗ để mắt nhìn xuyên qua thấy núi Phú Sĩ. Bọt sóng tách thành nhiều sóng nhỏ lặp lại hình con sóng lớn, và đầu bọt giống những "móng vuốt" chụp xuống thuyền.
- Ba chiếc thuyền. Là thuyền oshiokuri-bune, loại thuyền nhanh chở cá tươi về chợ Edo. Lấy chiều dài thuyền (12 đến 15 m) làm thước, và biết Hokusai đã nén chiều đứng khoảng 30%, người ta ước con sóng cao chừng 10 đến 12 m.
- Núi Phú Sĩ. Vẽ bằng màu xanh với đỉnh trắng, giống cách vẽ chính con sóng, nên núi như một con sóng nhỏ ở xa. Bố cục dùng lối "ba lớp" có gốc từ hội hoạ Trung Hoa: vật lớn ở tiền cảnh, nhỏ hơn ở trung cảnh và rất nhỏ ở hậu cảnh (thuyền lớn, thuyền nhỏ, núi nhỏ).
- Chữ ký và tên tranh. Góc trên bên trái có khung chữ nhật ghi tên loạt và tên tranh, bên cạnh là chữ ký "Hokusai aratame Iitsu hitsu" (nét bút của Hokusai, người đã đổi tên thành Iitsu). Với designer, khung chữ này chính là một "khối typography" được đặt có chủ đích vào khoảng trời trống.

Cận cảnh (cắt từ cùng bản in của Met): lòng sóng in xanh Phổ đậm với các chấm trắng để giấy trống, dải xanh nhạt hơn chạy dọc theo thân sóng, và nét viền xanh mảnh bao quanh từng "móng" bọt. Không có bóng đổ hay chuyển sáng tối kiểu tranh sơn dầu: chiều sâu đến từ mảng đậm đặt cạnh mảng nhạt. Ảnh: The Metropolitan Museum of Art (JP1847), phạm vi công cộng.
Màu xanh Phổ (Prussian blue) và "cuộc cách mạng màu xanh"
Xanh Phổ là chất màu tổng hợp, có lẽ được người làm màu Johann Jacob Diesbach tạo ra lần đầu ở Berlin khoảng năm 1706. Ở Nhật thời đó nó được gọi là Berlin ai (ベルリン藍, "chàm Berlin"), gọi tắt là bero ai. Wikipedia tiếng Anh viết màu này được nhập từ Hà Lan từ năm 1820 và về Nhật với số lượng lớn từ năm 1829.
Trước đó, ukiyo-e dùng màu chàm thực vật, sắc xanh mảnh và nhanh phai. Xanh Phổ bền màu hơn và đậm hơn. Mười tờ đầu của Ba mươi sáu cảnh núi Phú Sĩ, trong đó có Sóng lừng, thuộc nhóm tranh in Nhật đầu tiên dùng xanh Phổ; trong tranh Sóng lừng, Hokusai dùng xanh Phổ cùng với chàm. Đầu tháng 1/1831, nhà xuất bản Nishimuraya Yohachi (Eijudō) quảng cáo rầm rộ điểm mới này. Một số tờ trong loạt in gần như toàn màu xanh, gọi là aizuri-e. Giới nghiên cứu gọi giai đoạn đó là "cuộc cách mạng màu xanh" của Hokusai.
Muốn chọn một mã xanh gần tinh thần này cho thiết kế, bạn có thể xem bài bảng màu lạnh (có xanh dương đậm, xanh ngọc, xám lạnh kèm mã HEX). Phần dưới là bảng màu đo thật trên chính bản in của Met.
Bảng màu thật của tranh Sóng lừng, đo bằng công cụ
Bản in của Met (thu nhỏ còn 1600 px) được đưa vào công cụ Trích xuất bảng màu của ColorME ở chế độ chưa đăng nhập, chọn 10 màu. Kết quả: bốn sắc kem, be, vàng nhạt của giấy và trời (#F8F2DE 30%, #F3E4C6 24%, #E2CFAE 8%) chiếm khoảng 62% bức tranh; bốn sắc xanh đậm (#213D5C 7%, #31678C 5%, #2D4968 5%, #495869 4%) cộng lại chỉ khoảng 21%; phần còn lại là xanh xám nhạt (#CBD6CB 8%, #B2C1BD 4%) và xám của mây giông (#8C8E8A 6%). Chạm vào một điểm trong lòng sóng cho mã #223C5A, rất gần #213D5C trong bảng.

Ảnh chụp màn hình công cụ Trích xuất bảng màu (colorme.vn/tools/color-palette), chưa đăng nhập, ngày 04/11/2026, với bản in Sóng lừng của Met. Các con số phần trăm là tỉ lệ diện tích ước lượng của công cụ.
Bài học rút ra: một bức tranh "xanh" nổi tiếng thật ra phần lớn là màu giấy. Màu xanh mạnh vì nó ít và đặt cạnh nền sáng. Khi làm poster theo tinh thần ukiyo-e, hãy để nền ngà, kem chiếm phần lớn và dành màu đậm cho chủ thể chính. Bài màu xanh: bảng mã màu xanh dương, xanh lá và cách phối có thêm gợi ý phối các sắc xanh này.
Hokusai là ai và loạt Ba mươi sáu cảnh núi Phú Sĩ
Katsushika Hokusai (31/10/1760 đến 10/5/1849) là hoạ sĩ ukiyo-e thời Edo, vừa vẽ tranh vừa làm tranh in. Ông sinh ở vùng Katsushika phía đông Edo, năm 16 tuổi học việc ở một xưởng khắc, năm 18 tuổi theo học hoạ sĩ Katsukawa Shunshō. Ông dùng hơn 30 bút danh (bài Ukiyo-e trên Wikipedia tiếng Anh còn ghi hơn 100 tên) và hầu như đổi tên mỗi khi bắt đầu một giai đoạn sáng tác mới. Từ năm 1814 ông in các tập ký hoạ Hokusai Manga, gồm 15 tập ký hoạ người, động vật và nhiều đề tài khác.
Loạt Ba mươi sáu cảnh núi Phú Sĩ (富嶽三十六景, Fugaku Sanjūrokkei) ra đời khoảng 1830 đến 1832, khi Hokusai đã ngoài 70 tuổi, do Nishimura Yohachi xuất bản. Loạt tranh bán chạy tới mức được in thêm 10 tờ, tổng cộng 46 tờ. Mỗi tờ nhìn núi Phú Sĩ từ một nơi, một mùa, một kiểu thời tiết khác nhau, và núi có khi chiếm nửa tranh, có khi chỉ là một tam giác nhỏ phía xa. Ba tờ nổi tiếng nhất là Sóng lừng, Gió nam, trời quang (Phú Sĩ đỏ) và Mưa giông dưới chân núi.

Gió nam, trời quang (Gaifū kaisei), còn gọi là Phú Sĩ đỏ, Katsushika Hokusai, khoảng 1830 đến 1832. Chỉ vài mảng màu lớn: đỏ của núi, xanh của trời, trắng của mây. Hãy nhìn đỉnh núi tối dần và trời đậm dần về phía trên: đó là chuyển màu bokashi in thẳng từ ván gỗ. Ảnh: The Metropolitan Museum of Art (JP2960), phạm vi công cộng.
Theo Wikipedia tiếng Anh, Phú Sĩ đỏ được mô tả là "một trong những bản in Nhật đơn giản nhất và cũng nổi bật nhất". Bầu trời có ba sắc xanh đậm dần, đáp lại ba sắc của ngọn núi; khối núi đối xứng nằm bên phải được cân bằng bằng những dải mây mảnh bên trái. Đây là cách cân bố cục bằng khối lớn và chi tiết nhỏ, không cần đặt chủ thể vào giữa.


Trái: Mưa giông dưới chân núi (Sanka no haku u): cùng ngọn núi, nhưng nửa dưới tối sẫm với tia chớp đỏ. Phải: Dưới cầu Mannen ở Fukagawa: cây cầu vòm làm "khung trong khung", núi Phú Sĩ chỉ là một tam giác nhỏ lọt giữa hai chân cầu. Katsushika Hokusai, loạt Ba mươi sáu cảnh núi Phú Sĩ, khoảng 1830 đến 1832. Ảnh: The Metropolitan Museum of Art, JP11 và JP1332, phạm vi công cộng.
Hiroshige: Năm mươi ba trạm Tōkaidō và Trăm cảnh Edo
Utagawa Hiroshige (1797 đến 12/10/1858), còn gọi là Andō Hiroshige, thường được xem là bậc thầy lớn cuối cùng của ukiyo-e và là "đối thủ" ngang tầm Hokusai. Wikipedia tiếng Anh nhận xét Hiroshige chịu ảnh hưởng loạt Phú Sĩ của Hokusai khi chọn đề tài, nhưng tranh của ông nên thơ và giàu không khí hơn, còn tranh Hokusai mạnh và "hình thức" hơn. Màu tinh tế là cốt lõi của Hiroshige: ông hay in nhiều lượt lên cùng một vùng và dùng rất nhiều bokashi.
- Năm mươi ba trạm dọc đường Tōkaidō (bản Hōeidō, 1833 đến 1834): năm 1832 Hiroshige đi theo một đoàn chính thức từ Edo lên Kyoto theo con đường Tōkaidō, ký hoạ dọc đường rồi về làm loạt tranh. Loạt có 55 tờ: 53 trạm, cộng điểm xuất phát (cầu Nihonbashi) và điểm đến Kyoto. Đây là loạt ukiyo-e bán chạy nhất từng có.
- Trăm cảnh nổi tiếng ở Edo (Meisho Edo Hyakkei, 1856 đến 1859): thực tế có 119 tờ, Hiroshige II hoàn tất sau khi thầy mất. Loạt dùng khổ đứng, khác hẳn khổ ngang quen dùng cho tranh phong cảnh, và hay đặt một vật rất lớn, bị cắt bởi mép tranh, ngay tiền cảnh.

Tuyết chiều ở Kanbara, loạt Năm mươi ba trạm dọc đường Tōkaidō, Utagawa Hiroshige, khoảng 1833 đến 1834. Gần như chỉ có trắng giấy, xám và đen: trời tối được in đậm dần từ trên xuống, tuyết là phần giấy để trống. Ảnh: The Metropolitan Museum of Art (JP486), phạm vi công cộng.
Bức Mưa rào trên cầu Shin-Ōhashi và Atake (1857) trong loạt Trăm cảnh Edo là ví dụ hay về kỹ thuật khắc: cơn mưa mà Hiroshige gọi là "mưa trắng" được tạo bằng rất nhiều nét mảnh song song theo hai hướng, một việc khó trên ván gỗ, còn mây đen dùng bokashi nên mỗi bản in ra lại khác nhau chút ít. Bức Vườn mai ở Kameido (1857) cùng loạt thì cho thấy lối cắt khung táo bạo: thân cây mai lớn chạy ngang tiền cảnh, bị mép tranh cắt mất, cành vươn như nét thư pháp. Cả hai bức đều được Van Gogh chép lại, xem ở phần Japonisme bên dưới.
Ngôn ngữ hình ảnh của ukiyo-e: 6 đặc điểm designer nên học
Wikipedia tiếng Anh tóm tắt phong cách ukiyo-e: nét viền đậm, rõ và phẳng; hình sắp trên một mặt phẳng; bố cục thường bất đối xứng, góc nhìn lạ như nhìn từ trên cao; vật thể hay bị cắt ở mép tranh; mảng màu có đường bao rõ và phẳng, khác với màu chuyển sáng tối của tranh phương Tây. Bảng dưới gom lại thành 6 điểm để áp vào thiết kế:
| Đặc điểm | Trên tranh | Xem ở bức nào | Dùng trong thiết kế |
|---|---|---|---|
| Nét viền (outline) | Ván khoá in một nét đen hoặc xanh đậm bao mọi mảng màu | Bọt sóng trong Sóng lừng; bản in thử của Dow | Minh hoạ vector có stroke đều, đậm vừa; giữ một màu nét cho cả hình |
| Mảng màu phẳng | Mỗi màu một ván, gần như không đổ bóng | Phú Sĩ đỏ | Giới hạn 4 đến 6 màu, tô phẳng, bỏ gradient và đổ bóng mềm |
| Chuyển màu bokashi | Thợ in quét màu loang trên ván ẩm, thường ở trời và nước | Trời Phú Sĩ đỏ, trời đêm Kanbara, mây đen trong Mưa rào | Chỉ một dải chuyển màu ở trời hoặc mép trên, các mảng khác giữ phẳng |
| Bố cục bất đối xứng | Khối nặng dồn về một bên, bên kia để trống hoặc chi tiết nhỏ | Sóng lừng, Phú Sĩ đỏ | Đặt chủ thể lệch, dùng khoảng trống làm chỗ cho chữ |
| Cắt khung (cropping) | Vật ở tiền cảnh bị mép tranh cắt mất một phần | Vườn mai Kameido, cầu Mannen | Cho hình tràn ra ngoài khung để tạo chuyển động và cảm giác gần |
| Đường chân trời cao, góc nhìn lạ | Nhìn từ trên xuống hoặc từ dưới lên, chân trời đẩy cao hoặc hạ rất thấp | Mưa rào trên cầu Shin-Ōhashi, Phú Sĩ đỏ | Thử góc nhìn từ trên cao cho poster sự kiện, banner du lịch |
Ukiyo-e không chỉ có phong cảnh. Dòng tranh hoa và chim (kachō-e) cũng là kho bài học: nhiều tờ in khổ dọc hẹp như hai tờ dưới đây, chủ thể chiếm một phần nhỏ, phần còn lại là nền một màu hoặc bokashi nhẹ, rất gần với cách dàn một poster dọc tối giản hoặc một ảnh bìa câu chuyện mạng xã hội.


Trái: Chim bói cá và hoa diên vĩ, 1832 đến 1834. Phải: Ngỗng trời bay dưới trăng tròn, khoảng 1833. Utagawa Hiroshige, tranh khổ dọc hẹp. Hãy nhìn đường chéo của chim và nền gần như trống: chỉ vài mảng màu nhưng tranh vẫn chuyển động. Ảnh: The Metropolitan Museum of Art, JP2530 và JP270, phạm vi công cộng.
So với tranh thủy mặc, cũng là nghệ thuật Á Đông dùng nhiều khoảng trống, ukiyo-e khác ở chỗ: thủy mặc là mực loang, nét bút tự do vẽ tay một lần; ukiyo-e là nét khắc sắc, mảng màu phẳng, in lặp lại được. Một bên nghiêng về cảm xúc của nét cọ, một bên nghiêng về hệ thống và in ấn.
Japonisme: ukiyo-e đi vào tranh Van Gogh và poster phương Tây
Sau khi Nhật mở cửa giao thương, ukiyo-e sang châu Âu với số lượng lớn và có mặt ở Triển lãm Quốc tế Paris 1867. Nhà phê bình Philippe Burty đặt ra chữ Japonisme cho cơn mê nghệ thuật Nhật này. Nhà buôn Siegfried Bing mở cửa hàng đồ Nhật ở Paris năm 1875, xuất bản tạp chí Artistic Japan (1888 đến 1891) và tổ chức triển lãm ukiyo-e ở Trường Mỹ thuật Paris năm 1890. Từ thập niên 1870, Japonisme ảnh hưởng mạnh tới các hoạ sĩ Ấn tượng như Degas, Manet, Monet, rồi tới Van Gogh và Toulouse-Lautrec. Wikipedia tiếng Anh viết rằng phối cảnh phẳng và màu không chuyển sáng tối của ukiyo-e đặc biệt ảnh hưởng tới người làm đồ hoạ và vẽ poster.
Van Gogh sưu tầm ukiyo-e từ năm 1885, cùng em trai Theo gom được hàng trăm tờ (nay ở Bảo tàng Van Gogh, Amsterdam), trong đó có 12 tờ thuộc loạt Trăm cảnh Edo. Năm 1887 ông chép bằng sơn dầu hai bức của Hiroshige: ông đổi màu và thêm đường viền khung với những chữ Nhật chép từ các tranh in khác. Đặt bản gốc và bản chép cạnh nhau là cách nhanh nhất để thấy hoạ sĩ phương Tây "học" gì từ ukiyo-e.


Trái: Vườn mai ở Kameido, Utagawa Hiroshige, 1857, loạt Trăm cảnh nổi tiếng ở Edo. Ảnh: Rijksmuseum (RP-P-1956-743) qua Wikimedia Commons, phạm vi công cộng. Phải: Vườn mai nở hoa (chép Hiroshige), Vincent van Gogh, 1887, sơn dầu. Ảnh: Van Gogh Museum (s0115V1962) qua Wikimedia Commons, phạm vi công cộng. Van Gogh giữ nguyên bố cục cắt khung nhưng đẩy màu lên mạnh hơn và thêm khung chữ như một poster.


Trái: Mưa rào trên cầu Shin-Ōhashi và Atake, Utagawa Hiroshige, 1857. Ảnh: The Metropolitan Museum of Art (JP643), phạm vi công cộng. Phải: Cầu trong mưa (chép Hiroshige), Vincent van Gogh, 1887, sơn dầu. Ảnh: Van Gogh Museum (s0114V1962) qua Wikimedia Commons, phạm vi công cộng. Hãy so đường chéo của cây cầu và chân trời cao: Van Gogh giữ cả hai, đổi mặt sông sang xanh lá.
Ảnh hưởng không dừng ở tranh sơn dầu. Toulouse-Lautrec mượn mảng màu phẳng và nét viền của ukiyo-e cho tranh in thạch bản, còn ký tên bằng chữ cái đầu trong một vòng tròn, bắt chước con dấu trên tranh Nhật. Henri Rivière in loạt thạch bản Ba mươi sáu cảnh tháp Eiffel (1902) để tỏ lòng với Hokusai. Ở Mỹ, Arthur Wesley Dow, người làm việc với sưu tập tranh Nhật ở Boston, vẽ poster cho tạp chí Modern Art năm 1895 và viết cuốn Composition (1899) về bố cục, soạn cho người học và người dạy mỹ thuật.

Modern Art, Arthur Wesley Dow, 1895, poster in thạch bản, 51 x 39,1 cm. Hãy nhìn các mảng màu phẳng có đường bao (cây, đồi, mặt nước), chữ tiêu đề vẽ tay đặt thành một khối, và khung trong khung, đều là những bài học từ ukiyo-e. Ảnh: The Metropolitan Museum of Art (1984.1202.35), phạm vi công cộng.
Hơn một thế kỷ sau, cùng những nguyên tắc đó vẫn xuất hiện trong flat illustration, poster du lịch, bao bì: ít màu, nét bao rõ, một dải chuyển màu ở trời, chủ thể lệch về một bên và chữ nằm trong khoảng trống. Riêng Sóng lừng được Wayne Crothers, giám tuyển triển lãm Hokusai năm 2017 ở National Gallery of Victoria (Úc), gọi là "có lẽ là hình ảnh được tái bản nhiều nhất trong lịch sử nghệ thuật", và từ năm 2024 có mặt trên tờ tiền mới của Nhật Bản.
Cách đưa tinh thần ukiyo-e vào một poster hiện đại
Danh sách dưới đây dành cho người làm poster, banner, bìa sách hay minh hoạ muốn mượn ngôn ngữ ukiyo-e mà không biến thiết kế thành bản sao tranh cổ.
- Chọn một chủ thể và một "khoảnh khắc" thời tiết. Sóng, núi, mưa, tuyết, gió là những gì ukiyo-e làm giỏi nhất. Một poster chỉ nên có một chủ thể lớn, giống cách Hokusai cho núi Phú Sĩ đổi vai theo từng tờ.
- Khoá bảng màu 4 đến 6 màu. Một màu nền giấy (ngà, kem), một màu nét, hai đến ba màu mảng và một màu nhấn. Trên Sóng lừng, nền giấy chiếm khoảng 62%, xanh đậm khoảng 21%.
- Dùng một màu nét cho toàn bộ hình. Đặt stroke đều, cùng màu, bo đầu nét; nét xanh đậm hoặc nâu đen trông "ukiyo-e" hơn nét đen tuyền.
- Chỉ một dải bokashi. Chuyển màu tuyến tính ở mép trên (trời) hoặc mép dưới (nước), các mảng còn lại tô phẳng. Nhiều gradient sẽ làm hình mất chất in khắc.
- Đặt chủ thể lệch và cho nó bị cắt. Để vật lớn chạm hoặc vượt mép khung, phía đối diện để trống làm chỗ cho chữ.
- Coi khối chữ như khung tên trên tranh. Tên sự kiện đặt trong một ô chữ nhật dọc hoặc ngang ở góc trên, giống khung tên loạt tranh; logo nhỏ hình vuông hoặc tròn đặt như con dấu. Nếu dùng chữ Nhật trang trí, chọn từ danh sách font tiếng Nhật có Việt hoá để phần tiếng Việt vẫn đủ dấu.
- Thêm chất giấy nhẹ. Một lớp texture giấy mờ hoặc hạt nhỏ làm nền bớt "số", nhưng giữ thật nhẹ để không bẩn chữ.
- Dùng tranh gốc đúng nguồn. Nếu đưa nguyên tranh cổ vào thiết kế, lấy ảnh từ chương trình mở của bảo tàng (Met Open Access, Rijksmuseum...) và ghi nguồn; tranh "phong cách ukiyo-e" của hoạ sĩ đương đại thì vẫn có bản quyền.
- Kiểm tra ở cỡ nhỏ. Thu poster còn cỡ một ảnh xem trước trên điện thoại: nếu chủ thể và tên sự kiện vẫn đọc được, bố cục đã đủ mạnh.
Muốn xem thêm cách sắp thông điệp, hình ảnh và bố cục cho một tấm poster có mục đích rõ ràng, bạn có thể đọc bài cách làm poster tuyên truyền: thông điệp, hình ảnh, bố cục.
Nếu muốn tự tay vẽ những minh hoạ nét viền, mảng phẳng như vậy trên máy, bạn có thể tham khảo khoá Digital Painting cơ bản của ColorME (vẽ minh hoạ trên máy trong 16 buổi).
Câu hỏi thường gặp về ukiyo-e
Ukiyo-e là gì?
Ukiyo-e (浮世絵) nghĩa là "tranh về thế giới phù du", dòng tranh Nhật Bản phát triển từ thế kỷ 17 tới thế kỷ 19, chủ yếu là tranh in khắc gỗ bán cho dân thành thị Edo. Đề tài gồm mỹ nhân, diễn viên kabuki, phong cảnh, hoa và chim.
Ai vẽ bức Sóng lừng ngoài khơi Kanagawa?
Bức Sóng lừng ngoài khơi Kanagawa (The Great Wave off Kanagawa) do Katsushika Hokusai vẽ mẫu, là tờ đầu tiên trong loạt Ba mươi sáu cảnh núi Phú Sĩ, in khoảng 1830 đến 1832.
Tranh The Great Wave dùng màu xanh gì?
Hokusai dùng xanh Phổ (Prussian blue), chất màu tổng hợp từ châu Âu bền và đậm hơn màu chàm thực vật, kết hợp với chàm. Loạt Phú Sĩ thuộc nhóm tranh in Nhật đầu tiên dùng xanh Phổ.
Một bức ukiyo-e được in như thế nào?
Hoạ sĩ vẽ mẫu, thợ khắc dán mẫu lên ván gỗ anh đào và khắc ván nét, sau đó khắc thêm một ván cho mỗi màu. Thợ in quét màu lên từng ván và miết giấy bằng baren; dấu kentō ở góc ván giúp các màu khớp nhau.
Bokashi trong ukiyo-e là gì?
Bokashi là kỹ thuật chuyển màu: thợ in quét màu loang trên ván gỗ đã làm ẩm thay vì phủ đều, để có dải đậm nhạt ở trời, nước hay đỉnh núi. Mỗi tờ phải quét lại bằng tay nên các bản in khác nhau đôi chút.
Hokusai và Hiroshige khác nhau thế nào?
Cả hai là bậc thầy tranh phong cảnh. Hokusai nổi tiếng với loạt Ba mươi sáu cảnh núi Phú Sĩ, nét mạnh và bố cục táo bạo; Hiroshige nổi tiếng với Năm mươi ba trạm Tōkaidō và Trăm cảnh Edo, màu tinh tế, giàu không khí và dùng nhiều bokashi.
Ukiyo-e ảnh hưởng tới thiết kế hiện đại ra sao?
Qua trào lưu Japonisme cuối thế kỷ 19, nét viền rõ, mảng màu phẳng, bố cục lệch và cắt khung của ukiyo-e đi vào tranh Van Gogh, tranh in của Toulouse-Lautrec và poster, rồi tiếp tục sống trong flat illustration và poster ngày nay.
Tác giảCOLOR ME














