Tutorial · 27/10/2026
Kích thước sách, bìa sách phổ biến ở Việt Nam và cách tính gáy sách

Kích thước sách phổ biến ở Việt Nam theo các nhà in (13 × 19, 14,5 × 20,5, 16 × 24 cm...), khổ giấy in đi kèm, cách tính gáy sách từ số trang và độ dày giấy, kích thước file bìa mềm có tràn lề, bìa có tai gấp, bìa cứng và checklist trước khi gửi nhà in.
Trả lời nhanh: sách ở Việt Nam không có một khổ bắt buộc, nhưng các nhà in đều liệt kê một nhóm khổ quen thuộc: 13 × 19 cm cho truyện và tiểu thuyết, 14,5 × 20,5 cm hoặc 14 × 21 cm cho sách phổ thông, 16 × 24 cm cho giáo trình, 21 × 24 cm cho sách ảnh. Kích thước bìa sách trải phẳng = khổ sách × 2 + bề dày gáy, rồi cộng tràn lề mỗi cạnh. Gáy tính bằng số tờ giấy ruột (số trang ÷ 2) nhân với độ dày một tờ.
| Loại sách | Khổ hay dùng (rộng × cao) | Khổ thay thế |
|---|---|---|
| Truyện ngắn, tiểu thuyết | 13 × 19 cm | 14,5 × 20,5 cm; 14 × 21 cm |
| Giáo trình, sách chuyên ngành | 16 × 24 cm | 18 × 27 cm |
| Sách giáo khoa | 17 × 24 cm (theo Tân Nhật Minh) | 14,5 × 20,5 cm; 14 × 21 cm |
| Sách ảnh, sách minh họa | 21 × 24 cm | 24 × 27 cm |
| Sách khổ ngang | 24 × 16 cm | 27 × 18 cm |

Năm khổ sách hay gặp ở Việt Nam vẽ cùng tỉ lệ: 13 × 19, 14,5 × 20,5, 16 × 24, 17 × 24 và 21 × 24 cm. Hình do ColorME dựng theo các trang nhà in.
Bài này dành cho bạn đang dựng file bìa để gửi nhà in: chọn khổ, tính gáy, ra kích thước file có tràn lề, kể cả bìa có tai gấp. Nếu bạn cần phần ý tưởng (bố cục, màu, chữ trên bìa), hai bài thiết kế bìa sách là gì và hướng dẫn thiết kế bìa sách cho người mới nói kỹ hơn. Dựng xong, bạn có thể thả file vào công cụ Kiểm tra file in của ColorME để soát khổ, tràn lề và vùng an toàn; trang công cụ ghi: "Có, miễn phí và không cần đăng nhập."
Kích thước sách phổ biến ở Việt Nam
Mình đọc trang kích thước sách của bốn đơn vị in và thiết kế in tối 26/10/2026: Nhóm In (cập nhật 04/09/2025), Tân Nhật Minh (22/01/2025), In Hà Phương (20/03/2025) và Vinadesign. Các trang này liệt kê gần như cùng một bộ khổ. Đây là thông lệ của ngành in, không phải quy chuẩn do nhà nước ban hành; nhà xuất bản vẫn có thể chọn khổ riêng.
- Truyện ngắn, tiểu thuyết: Nhóm In ghi "13cm x 19cm", và "Có thể dùng khổ 14,5 cm x 20,5 cm hoặc 14 cm x 21 cm khi điều kiện in và khổ giấy cho phép".
- Giáo trình, tài liệu chuyên ngành: 16 × 24 cm, có thể dùng 18 × 27 cm. Bài năm 2019 của Tân Nhật Minh giải thích khổ lớn hơn dùng "trong điều kiện hình ảnh cần trình bày rõ, chữ to để thiếu nhi tập đọc".
- Sách giáo khoa: bài 2019 của Tân Nhật Minh ghi "Kích thước chuẩn của bìa sách giáo khoa là 17 cm x 24 cm". Bảng trong bài 2025 của chính đơn vị này và của Nhóm In lại ghi 27 × 24 cm, nên mình không coi đây là con số chắc chắn. Vinadesign ghi khổ sách giáo khoa mới của Nhà Xuất Bản Giáo Dục là 19 × 26,5 cm; mình chưa đọc được trang của nhà xuất bản để đối chiếu.
- Sách ảnh, sách minh họa (nửa ảnh đứng, nửa ảnh ngang): 21 × 24 cm, có thể dùng 24 × 27 cm.
- Sách khổ ngang (hình trình bày theo chiều ngang): 24 × 16 cm, có thể dùng 27 × 18 cm.

Khổ sách theo loại sách: khổ chính và khổ thay thế mà các nhà in liệt kê, kèm khổ A5 để so sánh.
Một chi tiết nhỏ nhưng tiện: khổ 14,5 × 20,5 cm gần như cùng tỉ lệ với khổ A5 (14,8 × 21 cm, chuẩn ISO 216, xem bảng trong công cụ Khổ giấy). Nếu bạn tự in thử ở nhà trên giấy A4 gấp đôi, trang A5 cho cảm giác gần đúng với cuốn sách thật. Bảng khổ A0 đến A6 theo cm và pixel có trong bài khổ giấy A4, A3, A5.
Vì sao khổ sách lại là những con số "lẻ" như 14,5 × 20,5?
Khổ sách đi theo khổ giấy lớn mà nhà in đặt lên máy. Nhóm In, Tân Nhật Minh và Vinadesign ghi cùng một danh sách: sách 13 × 19 cm in trên khổ giấy 79 × 109 cm, sách 14,5 × 20,5 cm in trên 60 × 84 cm, sách 17 × 24 cm in trên 70 × 100 cm, sách 20,5 × 28,5 cm in trên 60 × 84 cm. Chọn khổ khớp với tờ giấy lớn thì ít giấy thừa phải xén bỏ. Nếu bạn muốn một khổ "đẹp" theo ý mình, chẳng hạn 15 × 21 cm, hãy hỏi nhà in xem khổ đó có làm hao giấy không trước khi chốt.

Mỗi khổ sách đi với một khổ giấy lớn khi in: 13 × 19 trên 79 × 109 cm, 14,5 × 20,5 và 20,5 × 28,5 trên 60 × 84 cm, 17 × 24 trên 70 × 100 cm.
Cách tính gáy sách
Gáy là phần lưng sách, nơi in tên sách và tên tác giả. Bề dày gáy phụ thuộc vào hai thứ: số tờ giấy ruột và độ dày mỗi tờ. Một tờ giấy in hai mặt là hai trang, nên:
Gáy ≈ (số trang ÷ 2) × độ dày một tờ giấy ruột
Số trang ở đây là toàn bộ trang ruột, tính cả trang trắng, trang lót và trang bản quyền. Độ dày giấy đo bằng micromet (µm): 1.000 µm = 1 mm.

Công thức tính gáy: 240 trang là 120 tờ; nhân 0,12 mm mỗi tờ ra gáy 14,4 mm (giấy 80 g/m² dày 120 µm theo phiếu Munken Print Cream).
Lấy độ dày giấy ở đâu?
Định lượng (g/m²) không cho biết độ dày. Hai loại giấy cùng 80 g/m² có thể dày khác nhau, vì độ dày còn phụ thuộc độ xốp của giấy (độ phồng). Ví dụ có thật: phiếu kỹ thuật giấy sách Munken Print Cream của Arctic Paper (bản ngày 15/09/2020, mình đọc ngày 26/10/2026) ghi cùng định lượng 80 g/m² nhưng ba độ dày: 120 µm ở dòng giấy độ phồng 1,5, 144 µm ở độ phồng 1,8 và 160 µm ở độ phồng 2,0. Phiếu ghi rõ "Values are targets only" (đây là giá trị mục tiêu, có thể thay đổi).
| Munken Print Cream | 70 g/m² | 80 g/m² | 90 g/m² | 100 g/m² |
|---|---|---|---|---|
| Độ phồng 1,5 (dòng 15) | 105 µm | 120 µm | 135 µm | 150 µm |
| Độ phồng 1,8 (dòng 18) | 124 µm | 144 µm | 162 µm | 180 µm |
| Độ phồng 2,0 (dòng 20) | 140 µm | 160 µm | 180 µm | 200 µm |
Phiếu này định nghĩa độ phồng (bulk) là "thickness/grammage", tức độ dày chia định lượng. Nhờ vậy, nếu nhà in chỉ cho bạn định lượng và độ phồng, bạn vẫn ra được độ dày: 80 g/m² × độ phồng 1,5 = 120 µm. Giấy in sách ở xưởng trong nước có thể là loại khác hẳn; con số chắc nhất vẫn là độ dày nhà in đọc từ phiếu giấy của họ. Bài định lượng giấy gsm là gì giải thích thêm vì sao cùng gsm mà giấy dày mỏng khác nhau.
Ví dụ tính gáy
Cùng một cuốn 240 trang (120 tờ), đổi giấy là gáy đổi theo. Với giấy 80 g/m²:
| Số trang | Số tờ | Độ phồng 1,5 (120 µm) | Độ phồng 1,8 (144 µm) | Độ phồng 2,0 (160 µm) |
|---|---|---|---|---|
| 160 | 80 | 9,6 mm | 11,52 mm | 12,8 mm |
| 240 | 120 | 14,4 mm | 17,28 mm | 19,2 mm |
| 320 | 160 | 19,2 mm | 23,04 mm | 25,6 mm |
Chênh gần 5 mm ở cuốn 240 trang chỉ vì đổi loại giấy cùng định lượng. Đó là lý do bạn không nên chốt file bìa trước khi chốt giấy ruột. Các số trong bảng là phép tính của mình theo công thức trên, chưa cộng phần bìa ôm gáy.

Cùng giấy 80 g/m², độ phồng 1,5, 1,8 và 2,0 cho gáy khác nhau ở 160, 240 và 320 trang. Thanh vẽ đúng tỉ lệ, chưa cộng bìa.
Cách nhà in khuyên: làm sách giả
Công thức cho con số để dựng file nháp. Các nhà in mình đọc đều khuyên một cách chắc hơn. Nhóm In viết: "Phương pháp tốt nhất là làm sách giả. Bạn lựa chọn đúng loại giấy in sách và gấp thành tay giả với số trang thực tế. Sau đó bắt các tay sách với nhau và kẹp thành quyển sách giả. Lúc này bạn sẽ đo được độ dày thực tế của gáy sách." Cũng theo trang này, sách "có số trang nhiều hơn 20 trang" đóng bằng khâu chỉ, keo nhiệt thì "bắt buộc phải tính độ dày của gáy".
Cách làm của mình khi dựng bìa: tính gáy bằng công thức để làm file nháp, gửi nhà in xin con số gáy chính thức (hoặc nhờ họ làm sách giả), rồi mới sửa file bìa lần cuối.
Kích thước file bìa sách: bìa mềm trải phẳng
Bìa mềm là một tờ giấy dày ôm từ bìa sau, qua gáy, sang bìa trước. Nhóm In, Tân Nhật Minh và Vinadesign ghi cùng một công thức: "Kích thước chiều ngang bìa sách = Kích thước khổ sách x 2 + kích thước gáy sách." Chiều cao bìa bằng chiều cao sách.
Sau đó cộng tràn lề (bleed): phần nền kéo dài ra ngoài đường xén để khi cắt không lộ viền trắng. Trang Kiểm tra file in của ColorME ghi tràn lề "thường 3 mm" và vùng an toàn là "vùng cách đường cắt 5 mm vào trong". Các trang nhà in mình đọc lại nói về lề cắt của trang ruột: Nhóm In ghi "Thông thường lề là 5mm" và lấy ví dụ trang sách 13 × 19 cm thành trang in 13,5 × 20 cm. Mỗi xưởng một yêu cầu, nên bạn hỏi đúng xưởng sẽ in.
Ví dụ đầy đủ: sách 14,5 × 20,5 cm, 240 trang, giấy ruột 80 g/m² dày 120 µm.
- Gáy: 120 tờ × 0,12 mm = 14,4 mm.
- Bìa trải phẳng (thành phẩm): 145 × 2 + 14,4 = 304,4 mm ngang; cao 205 mm.
- File có tràn lề 3 mm mỗi cạnh: 310,4 × 211 mm.
- Ở 300 ppi, file này cần khoảng 3666 × 2492 px.

File bìa mềm trải phẳng cho sách 14,5 × 20,5 cm, gáy 14,4 mm: thành phẩm 304,4 × 205 mm, cả tràn lề 3 mm là 310,4 × 211 mm.
Trong file, đặt đường gióng (guide) ở đúng các mốc: 3 mm (đường xén trái), 148 mm (nếp gấp bìa sau và gáy), 162,4 mm (nếp gấp gáy và bìa trước), 307,4 mm (đường xén phải). Chữ và logo nhà xuất bản đặt trong vùng an toàn của từng mặt, không chạm nếp gấp, để phòng bìa lệch nhẹ khi vào gáy.
Bìa có tai gấp (vạt bìa)
Tai gấp là hai vạt giấy nối dài từ mép bìa trước và bìa sau, gập vào trong. Chúng thường in giới thiệu tác giả hoặc lời bình. Chiều ngang file lúc này:
Tai gấp + bìa 4 + gáy + bìa 1 + tai gấp, cộng tràn lề hai đầu.
Mình không tìm được trang nhà in trong nước nào nêu một bề rộng tai gấp chuẩn mà đọc được tối nay, nên ví dụ dưới đây dùng tai gấp 80 mm làm số giả định. Cùng cuốn 14,5 × 20,5 cm, gáy 14,4 mm: 80 + 145 + 14,4 + 145 + 80 = 464,4 mm ngang; cộng tràn lề 3 mm hai đầu thành 470,4 × 211 mm (khoảng 5556 × 2492 px ở 300 ppi). Bề rộng tai thật do nhà xuất bản và nhà in chốt; nhiều xưởng có sẵn file mẫu (template), xin file đó là nhanh nhất.

Cùng cuốn sách, bìa có hai tai gấp 80 mm (số giả định): file 470,4 × 211 mm cả tràn lề.
Bìa cứng tính gáy thế nào?
Bìa cứng có thêm rãnh ở hai bên gáy để mở sách, nên không dùng được nguyên con số của bìa mềm. Nhóm In và Vinadesign ghi cùng một quy tắc: tính gáy như bìa mềm, rồi "khi thiết kế phải cộng thêm 1.5cm cho hai rãnh ở gáy sách" (lời Nhóm In), và cộng thêm 2 đến 2,5 cm nếu gáy sách bo tròn. Trang không nói rõ phần cộng thêm này nằm ở đâu trên file, nên với bìa cứng mình khuyên xin file mẫu của nhà in thay vì tự tính.
Bảng tra nhanh kích thước file bìa
Các dòng dưới đây là phép tính của mình theo công thức ở trên, tràn lề 3 mm mỗi cạnh, giấy ruột theo phiếu Munken Print Cream. Thay đúng độ dày giấy của nhà in khi bạn làm thật.
| Khổ sách | Ruột | Gáy | File bìa mềm có tràn lề |
|---|---|---|---|
| 13 × 19 cm | 200 trang, 70 g/m², 105 µm | 10,5 mm | 276,5 × 196 mm |
| 14,5 × 20,5 cm | 240 trang, 80 g/m², 120 µm | 14,4 mm | 310,4 × 211 mm |
| 16 × 24 cm | 320 trang, 80 g/m², 144 µm | 23,04 mm | 349,04 × 246 mm |
Checklist trước khi gửi file bìa cho nhà in
- Chốt khổ thành phẩm với nhà in (và hỏi khổ đó in trên tờ giấy lớn nào).
- Chốt giấy ruột và số trang cuối cùng, kể cả trang trắng; xin độ dày giấy hoặc nhờ làm sách giả.
- Tính gáy, dựng file bìa = khổ × 2 + gáy (+ tai gấp nếu có), cộng tràn lề theo yêu cầu của xưởng.
- Đặt guide ở mọi đường xén và nếp gấp; giữ chữ trong vùng an toàn.
- Kiểm tra độ phân giải ảnh trên bìa và khổ file bằng Kiểm tra file in (trang công cụ ghi ấn phẩm có cạnh dài dưới 50 cm được "tính theo 300 ppi").
- Khi nhà in báo lại con số gáy chính thức, sửa file và gửi bản cuối.
Nếu bạn dàn trang cả ruột lẫn bìa, phần mềm hợp nhất là InDesign; ColorME có khóa học InDesign, trong đó có phần thiết kế sách, báo và kiến thức về in ấn, xuất bản.
Câu hỏi thường gặp
Kích thước bìa sách tiêu chuẩn là bao nhiêu?
Không có một khổ bắt buộc. Khổ hay gặp ở Việt Nam theo các trang nhà in: 13 × 19 cm cho truyện, tiểu thuyết; 14,5 × 20,5 cm hoặc 14 × 21 cm cho sách phổ thông; 16 × 24 cm cho giáo trình; 21 × 24 cm cho sách ảnh. Bìa trải phẳng rộng bằng khổ × 2 + gáy.
Cách tính gáy sách như thế nào?
Gáy ≈ (số trang ÷ 2) × độ dày một tờ giấy ruột. Ví dụ 240 trang giấy dày 120 µm: 120 tờ × 0,12 mm = 14,4 mm. Nhà in khuyên làm sách giả bằng đúng giấy để đo gáy thật.
Sách 14,5 × 20,5 cm thì file bìa bao nhiêu?
Với gáy 14,4 mm: bìa trải phẳng 304,4 × 205 mm; cộng tràn lề 3 mm mỗi cạnh thành 310,4 × 211 mm, khoảng 3666 × 2492 px ở 300 ppi.
Giấy 80 g/m² dày bao nhiêu mm?
Tùy loại giấy. Phiếu kỹ thuật Munken Print Cream ghi 80 g/m² dày 120 µm, 144 µm hoặc 160 µm tùy độ phồng (0,12 đến 0,16 mm). Hỏi nhà in độ dày của đúng loại giấy họ dùng.
Bìa sách cần tràn lề bao nhiêu?
Mức hay dùng là 3 mm mỗi cạnh, vùng an toàn cách đường xén 5 mm vào trong. Một số nhà in yêu cầu lề cắt 5 mm; hỏi xưởng sẽ in trước khi dựng file.
Tác giảCOLOR ME














