Tutorial · 13/10/2019
Blend màu Photoshop là gì? Các chế độ blend màu trong Photoshop

Blend màu cho ảnh là một kỹ thuật phổ biến trong Photoshop nhưng không phải ai cũng hiểu hết về nó. Vậy blend màu Photoshop là gì? Có những chế độ blend màu nào trong Photoshop? Cùng tìm hiểu với ColorME qua bài viết sau đây nhé
Trả lời nhanh: blend màu là gì?
Blend màu (blending mode, chế độ hoà trộn) là quy tắc Photoshop dùng để trộn màu của một layer hay một nét cọ với màu bên dưới nó. Mỗi chế độ tính ra một màu mới từ hai màu: làm tối, làm sáng, tăng tương phản, so sánh hoặc đổi sắc độ. Trong bảng Layers, Photoshop có 27 chế độ blend cho layer, chia thành 6 nhóm (Adobe, Blending mode descriptions). Mẹo dễ nhớ: bốn nhóm có một “màu trung tính”, trộn vào không làm ảnh thay đổi.

Blend màu: màu nền ở lớp dưới, màu hoà trộn ở lớp trên, chế độ blend quyết định màu kết quả. Màu tính theo công thức W3C. Hình do ColorME tự dựng.
| Nhóm (theo Adobe) | Các chế độ | Màu không gây thay đổi | Thường dùng để |
|---|---|---|---|
| Normal | Normal, Dissolve | (không áp dụng) | Ghép, phủ màu thông thường |
| Darken (làm tối) | Darken, Multiply, Color Burn, Linear Burn, Darker Color | Trắng | Bỏ nền trắng, tạo bóng, làm tối ảnh cháy sáng |
| Lighten (làm sáng) | Lighten, Screen, Color Dodge, Linear Dodge (Add), Lighter Color | Đen | Bỏ nền đen, thêm ánh sáng, làm sáng ảnh thiếu sáng |
| Contrast (tương phản) | Overlay, Soft Light, Hard Light, Vivid Light, Linear Light, Pin Light, Hard Mix | Xám 50% | Tăng tương phản, phủ texture, dodge & burn |
| Comparative (so sánh) | Difference, Exclusion, Subtract, Divide | Đen (với Difference, Exclusion) | So sánh, căn khớp hai ảnh, hiệu ứng đảo màu |
| HSL (màu sắc) | Hue, Saturation, Color, Luminosity | (không áp dụng) | Đổi màu, tô màu ảnh đen trắng |
Cột “màu không gây thay đổi” lấy từ mô tả từng chế độ của Adobe. Hai chế độ Behind và Clear chỉ có cho công cụ vẽ, không có trong bảng Layers.
Blend là gì?
Trong tiếng Anh, “blend” nghĩa là pha trộn. Trong Photoshop, blend là một cách để trộn các pixel của hai hình ảnh với nhau để có được các loại hiệu ứng khác nhau. Ngoài ra, blend màu được hiểu nôm na là cách pha trộn 2 hay nhiều màu sắc khác nhau để tạo được hiệu ứng màu sắc hình ảnh đẹp hơn. Sau khi hình ảnh được blend màu sẽ có tính thẩm mỹ và mang tính sáng tạo, chuyên nghiệp hơn.
Theo đánh giá chung cho thấy blend và retouch được xem là 2 công việc hậu kỳ khá quan trọng để có thể tạo nên được một bức hình đẹp, màu sắc tươi sáng và bức hình có hồn hơn.
Adobe dùng ba tên gọi: màu nền (base color, lớp bên dưới), màu hoà trộn (blend color, layer hoặc nét cọ đặt chế độ blend) và màu kết quả (result color).
Blend ảnh là đặt hai ảnh chồng lên nhau rồi chọn chế độ hoà trộn cho ảnh trên; blend khi vẽ là chọn chế độ cho cọ hoặc layer tô màu, ví dụ layer đổ bóng đặt Multiply.
Bên cạnh việc tự blend màu ảnh, bạn còn có thể sử dụng các action có sẵn với rất nhiều hiệu ứng đẹp mắt. Tham khảo 10 Hiệu ứng ảnh màu vintage miễn phí trong Photoshop nhé
Cách đổi chế độ blend trong Photoshop
- Chọn layer hoặc group trong bảng Layers.
- Mở menu thả xuống Blend Mode ở đầu bảng Layers (mặc định ghi “Normal”) và chọn chế độ. Cách khác: Layer > Layer Style > Blending Options rồi chọn trong mục Blend Mode.
- Rê chuột qua từng chế độ: Photoshop xem trước trực tiếp trên ảnh.
- Giảm Opacity hoặc Fill để hiệu ứng nhẹ đi (Fill không làm mờ layer style như đổ bóng).
Các bước trên theo trang hướng dẫn của Adobe về opacity và chế độ hoà trộn của layer. Với cọ, chế độ hoà trộn chọn ở thanh Options phía trên khi đang dùng công cụ vẽ.

27 chế độ blend trong bảng Layers theo 6 nhóm của Adobe; ô màu là màu trung tính của nhóm, trộn vào không làm ảnh thay đổi. Hình do ColorME tự dựng.
Các chế độ blend màu trong Photoshop
Các chế độ hoà trộn màu sắc của Photoshop thường được giới thiệu thành 4 nhóm chính:
- Darken modes - Làm tối hình ảnh hoặc dùng để sửa những bức ảnh bị chói sáng
- Lighten modes - Làm sáng hình ảnh hoặc dùng để sửa những bức ảnh thiếu sáng
- Contrast modes - Hiệu chỉnh độ tương phản của bức hình
- Coloring modes - Sửa sắc độ và độ bão hoà màu sắc
Adobe tách thêm nhóm Comparative (so sánh): Difference, Exclusion, Subtract, Divide, xếp riêng bên dưới.
Hai chế độ hoà trộn đầu tiên (Normal và Dissolve) thì lại không nằm trong nhóm nào trong các nhóm trên.
Normal: Normal là chế độ hòa trộn mặc định cho các layer mới và các công cụ vẽ cơ bản. Tùy thuộc vào độ mờ, layer nào ở trên sẽ che lấp hoàn toàn pixel bên dưới.
Dissolve: Mỗi pixel được thay ngẫu nhiên bằng màu nền hoặc màu hoà trộn, tùy theo độ mờ tại vị trí đó. Vì vậy hiệu ứng chỉ thấy được ở chỗ pixel bán trong suốt (có thể tạo ra khi dùng brush, blur, opacity).

Darkening - Chỉnh sửa và làm tối bất kỳ phần nào của bức hình.
Màu trắng không gây thay đổi, nên bản scan nét vẽ hay chữ ký đặt Multiply thì phần giấy trắng biến mất, chỉ còn nét.
Darken: Chế độ hòa trộn Darken so sánh màu nền và màu hoà trộn theo từng kênh màu, giá trị nào tối hơn sẽ được giữ lại. Pixel sáng hơn màu hoà trộn bị thay thế, pixel tối hơn giữ nguyên.

Multiply: Chế độ hòa trộn Multiply nhân các giá trị màu của từng pixel cơ sở và pixel trộn (RGB hoặc CMYK) và kết quả là một màu bao giờ cũng “tối” hơn. Nhân với màu đen ra đen, nhân với màu trắng thì giữ nguyên. Ứng dụng để sửa mấy ảnh bị chói sáng.

Color Burn: Tên gọi mượn từ kỹ thuật “burn” trong phòng tối, làm tối một vùng ảnh bằng cách cho vùng đó phơi sáng lâu hơn. Theo Adobe, Color Burn làm tối màu nền theo màu hoà trộn bằng cách tăng tương phản giữa hai màu; thực tế thường gặp là màu đậm và gắt hơn Multiply. Màu trắng không có tác dụng.

Linear Burn: Giống như Color Burn, Linear Burn làm tối màu nền, nhưng bằng cách giảm độ sáng thay vì tăng độ tương phản. Hoà trộn với màu trắng không gây thay đổi.
Darker Color: Trong khi Darken xét từng kênh màu riêng, Darker Color cộng tổng giá trị các kênh của màu nền và màu hoà trộn rồi giữ nguyên màu nào có tổng thấp hơn. Vì chỉ chọn một trong hai màu, Darker Color không tạo ra màu thứ ba như Darken có thể tạo.
Lightening - Giúp làm sáng ảnh và sửa ảnh thiếu sáng.
Màu đen không gây thay đổi, nên ảnh lửa, khói hay pháo hoa chụp trên nền đen đặt Screen thì nền đen biến mất.
Lighten: Chế độ hòa trộn Lighten so sánh màu nền và màu hoà trộn theo từng kênh màu, giá trị nào sáng hơn sẽ được giữ lại.

Screen: Screen đối lập với chế độ hòa trộn Multiply. Photoshop nhân giá trị nghịch đảo của hai màu rồi đảo kết quả lại, nên màu kết quả luôn sáng hơn. Screen với màu đen giữ nguyên màu, với màu trắng ra trắng.

Color Dodge: Trái ngược với Color Burn, tên Color Dodge mượn từ kỹ thuật “dodge” trong phòng tối, làm sáng một vùng ảnh bằng cách giảm thời gian phơi sáng. Theo Adobe, chế độ này làm sáng màu nền theo màu hoà trộn bằng cách giảm tương phản; hoà trộn với màu đen không gây thay đổi. Nó gần giống công cụ Dodge của Photoshop.

Linear Dodge (Add): Dùng thông tin độ sáng tối của layer áp dụng mode này để tăng độ sáng cho layer bên dưới nó. Hoà trộn với màu đen không gây thay đổi.

Lighter Color: Ngược với Darker Color: Photoshop cộng tổng giá trị các kênh của hai màu rồi giữ nguyên màu nào có tổng cao hơn, không tạo ra màu thứ ba.

Contrasting - Tăng độ tương phản cho bức hình
Xám 50% là màu trung tính của nhóm này, vì thế layer xám 50% đặt Overlay hoặc Soft Light là cách thường gặp để dodge & burn không phá ảnh gốc.
Overlay: Đây là sự kết hợp của chế độ hòa trộn Multiply và Screen, tùy theo màu nền: chỗ ảnh nền tối thì hoạt động như Multiply, chỗ ảnh nền sáng thì hoạt động như Screen. Nhờ vậy vùng sáng và vùng tối của ảnh gốc vẫn được giữ. Overlay thường tạo ra sự thay đổi về màu sắc cũng như độ sáng.

Soft Light: Soft Light làm tối hoặc làm sáng tùy theo màu hoà trộn, giống như rọi một ngọn đèn ánh sáng tán xạ lên ảnh. Nếu màu pha trộn sáng hơn xám 50%, kết quả là sáng hơn; nếu màu pha trộn tối hơn xám 50%, kết quả bị tối hơn. Soft Light thường là một lựa chọn tinh tế hơn cho Overlay.

Hard Light: Hard Light là phiên bản sống động hơn của Soft Light, Adobe ví như rọi đèn gắt lên ảnh. Màu hoà trộn sáng hơn xám 50% thì ảnh sáng lên như Screen; tối hơn xám 50% thì ảnh tối đi như Multiply. Chế độ này hữu ích để thêm bóng đổ cho ảnh.

Vivid Light: Vivid Light giống như Overlay ở chỗ nó vừa tối vừa sáng, nhưng làm bằng cách “burn” hoặc “dodge” qua độ tương phản: màu hoà trộn sáng hơn xám 50% thì ảnh sáng lên do giảm tương phản, tối hơn xám 50% thì ảnh tối đi do tăng tương phản.

Linear Light: Linear Light hoạt động giống như Vivid Light và có thể được coi là sự pha trộn giữa Linear Dodge và Linear Burn: thay vì tương phản, nó tăng hoặc giảm độ sáng tùy màu hoà trộn sáng hay tối hơn xám 50%.

Pin Light: Pin Light kết hợp chế độ hòa trộn Darken và Lighten, thay màu tùy theo màu hoà trộn. Nếu màu hoà trộn sáng hơn xám 50%, pixel nào tối hơn màu hoà trộn bị thay thế, pixel sáng hơn giữ nguyên. Nếu màu hoà trộn tối hơn xám 50%, pixel nào sáng hơn màu hoà trộn bị thay thế, pixel tối hơn giữ nguyên.

Hard Mix: Chế độ hòa trộn Hard Mix tạo ra hiệu ứng áp phích bằng cách buộc các màu tương tự thành một giá trị duy nhất. Photoshop cộng giá trị từng kênh đỏ, xanh lục, xanh lam của màu hoà trộn vào màu nền. Kênh nào có tổng từ 255 trở lên được đặt thành 255, nhỏ hơn 255 thì đặt thành 0. Vì vậy mọi pixel chỉ còn là đỏ, xanh lục, xanh lam, các màu cộng hai kênh, trắng hoặc đen.

So sánh - Difference, Exclusion, Subtract, Divide
Difference: Chế độ này dùng để so sánh sự khác nhau giữa 2 bức hình, nếu chỗ nào giống thì nó sẽ có màu đen. Về cách tính, Photoshop lấy màu sáng hơn trừ màu tối hơn theo từng kênh. Trộn với trắng sẽ đảo ngược màu nền, trộn với đen không gây thay đổi. Mẹo thường gặp: đặt ảnh trên ở Difference rồi kéo đến khi gần đen hoàn toàn là hai ảnh đã khớp.

Exclusion: Exclusion là một phiên bản của Difference ít ấn tượng hơn, tức tương phản thấp hơn. Trộn với trắng cũng đảo ngược màu nền, trộn với đen không gây thay đổi.

Subtract: Subtract so sánh giá trị cơ sở và pha trộn trong mỗi kênh cho mỗi pixel và trừ giá trị hòa trộn khỏi giá trị cơ sở, thường dẫn đến hình ảnh tối hơn với sự thay đổi màu đáng kể. Với ảnh 8 bit và 16 bit, kết quả âm được đưa về 0.

Divide: Màu cơ bản được chia cho màu pha trộn, kênh theo kênh, cho mỗi pixel. Nó thường tạo ra một màu kết quả sáng hơn nhiều.

Coloring - Đổi màu cho ảnh
Hue: Màu kết quả giữ độ sáng và độ bão hòa của màu cơ bản, còn sắc độ (hue) lấy từ màu pha trộn.
Saturation: Độ sáng và sắc độ của màu cơ bản được giữ lại, độ bão hòa lấy từ màu pha trộn. Tô bằng chế độ này lên vùng xám (độ bão hoà 0) sẽ không gây thay đổi.
Color: Độ sáng của màu cơ bản được giữ lại và cả sắc độ lẫn độ bão hòa của màu pha trộn được áp dụng. Vì giữ nguyên các mức xám, Adobe khuyên dùng Color để tô màu ảnh đen trắng và ám màu ảnh màu.
Luminosity: Sắc độ và độ bão hòa của màu cơ bản được giữ lại, độ sáng lấy từ màu pha trộn. Đây là hiệu ứng ngược với Color.
Để tìm hiểu thêm các đặc tính màu sắc, tham khảo bài viết Trọn bộ từ điển màu sắc cho designers nhé
Công thức của các chế độ blend phổ biến
Đặc tả Compositing and Blending Level 1 của W3C ghi công thức cho 16 chế độ. Trong bảng dưới, giá trị màu tính từ 0 (đen) đến 1 (trắng), Cb là màu nền, Cs là màu hoà trộn (W3C Compositing and Blending Level 1).
| Chế độ | Công thức (W3C) | Đọc nhanh |
|---|---|---|
| Multiply | Cb × Cs | Nhân hai số nhỏ hơn 1 ra số nhỏ hơn, nên luôn tối đi |
| Screen | Cb + Cs − Cb × Cs | Luôn sáng ít nhất bằng màu sáng hơn trong hai màu |
| Hard Light | Cs ≤ 0,5: Multiply(Cb, 2 × Cs); ngược lại: Screen(Cb, 2 × Cs − 1) | Màu hoà trộn quyết định làm tối hay làm sáng |
| Overlay | HardLight(Cs, Cb) | Như Hard Light nhưng đổi vai, màu nền quyết định |
| Difference | |Cb − Cs| | Hai màu giống nhau ra 0, tức màu đen |
Ví dụ: kênh đỏ màu nền 0,8, màu hoà trộn 0,5. Multiply ra 0,4 (tối hơn cả hai), Screen ra 0,9 (sáng hơn cả hai), Difference ra 0,3.

Ví dụ trong bài và kết quả của 16 chế độ cho ba cặp màu, tính theo công thức W3C Compositing and Blending Level 1 (giống CSS mix-blend-mode). Hình do ColorME tự dựng.
Blend trong Photoshop, CSS và ứng dụng khác
Thuộc tính CSS mix-blend-mode có 16 giá trị cùng tên với Photoshop (W3C). Linear Burn, Linear Dodge, Vivid Light, Linear Light, Pin Light, Hard Mix, Subtract, Divide, Darker Color và Lighter Color không có trong danh sách đó, nên khi đưa thiết kế lên web cần xuất sẵn thành ảnh.
Blend màu trên màn hình là phép tính trên giá trị ánh sáng RGB, khác hẳn trộn sơn. Bài bảng pha màu, phần pha màu số và chế độ hoà trộn giải thích sự khác nhau này. Nếu bạn vẽ tay và muốn xem màu sơn trộn ra màu gì, Bảng pha màu online của ColorME cho xem trước, với lưu ý trên trang công cụ: “Mô phỏng trên màn hình: màu thật còn tuỳ hãng sơn, độ đặc, giấy và màn hình.”
Lỗi thường gặp khi blend màu
- Chọn chế độ nhưng ảnh không đổi: kiểm tra màu trung tính trong bảng đầu bài.
- Thiếu chế độ trong menu: file 32 bit chỉ có Normal, Dissolve, Darken, Multiply, Lighten, Linear Dodge (Add), Difference, Hue, Saturation, Color và Luminosity (Adobe). Với ảnh Lab, Color Dodge, Color Burn, Darken, Lighten, Difference, Exclusion, Subtract và Divide không dùng được.
- Adjustment layer trong group mất tác dụng: group mặc định là Pass Through; đổi sang chế độ khác thì các layer bên trong được gộp trước, nên chỉnh màu trong group không còn tác động ra ngoài (Adobe).
- Hiệu ứng quá gắt: giảm Opacity hoặc Fill, hoặc đổi sang chế độ “mềm” hơn cùng nhóm (Soft Light thay cho Overlay, Multiply thay cho Color Burn).

Bốn lỗi trong danh sách trên, mỗi lỗi kèm một ví dụ: màu trung tính, các chế độ của file 32 bit, group Pass Through và cách đổi sang chế độ mềm hơn. Hình do ColorME tự dựng.
Muốn đổi chế độ nhanh hơn, hãy luyện phím tắt Photoshop với công cụ Luyện phím tắt của ColorME; trang công cụ ghi: “Có, miễn phí và không cần đăng nhập.”
Câu hỏi thường gặp
Blend là gì trong tiếng Anh?
“Blend” là pha trộn; “blend mode” là chế độ hoà trộn.
Color Burn là gì?
Color Burn là chế độ trong nhóm làm tối: nó làm tối màu nền theo màu hoà trộn bằng cách tăng tương phản; màu trắng không gây thay đổi (Adobe). Trong thực tế thường gặp, kết quả đậm và gắt hơn Multiply.
Color Dodge là gì?
Color Dodge là chế độ trong nhóm làm sáng, ngược với Color Burn: làm sáng màu nền theo màu hoà trộn bằng cách giảm tương phản; màu đen không gây thay đổi (Adobe). Cách dùng thường gặp: vẽ ánh sáng phát ra, tia lửa, viền sáng.
Multiply và Screen khác nhau thế nào?
Multiply nhân hai màu nên luôn tối hơn và bỏ được nền trắng; Screen nhân phần nghịch đảo nên luôn sáng hơn và bỏ được nền đen. Theo công thức của W3C, Screen chính là Multiply làm trên phần bù của hai màu rồi đảo lại.

Cùng một ảnh phủ một lớp màu cam ở ba chế độ: Multiply tối hơn, Screen sáng hơn, Overlay giữ cả vùng sáng lẫn vùng tối. Kết quả CSS mix-blend-mode. Ảnh: Nikolaj Paphalmy / Unsplash. Hình do ColorME tự dựng.
Tạm kết,
Hi vọng bài viết này đã giúp bạn hiểu rõ chức năng của từng hiệu ứng blend trong Photoshop để có thể ứng dụng chúng linh hoạt trong chỉnh sửa ảnh. Nếu bạn yêu thích edit ảnh và muốn tìm hiểu nhiều chức năng của Photoshop hơn nữa, tham gia khóa học Photoshop cơ bản tại ColorME nhé. Nếu bạn tự học, lộ trình tự học Photoshop cơ bản sẽ chỉ bạn nên học layer và chế độ hoà trộn ở bước nào.
Nguồn đối chiếu (đọc ngày 15/10/2026): Adobe, Blending mode descriptions; Adobe, Set layer opacity and blending modes; W3C, Compositing and Blending Level 1. Thuật ngữ: chế độ hoà trộn (blending mode).
Cập nhật 15/10/2026: ColorME bổ sung trả lời nhanh, cách đổi chế độ, công thức, lỗi thường gặp và câu hỏi thường gặp; đính chính một số mô tả chế độ theo hướng dẫn của Adobe.
Tác giảKiều Anh














