Tutorial · 03/11/2026
Giấy vẽ: các loại giấy vẽ chì, màu nước, marker, phác thảo, canvas và cách chọn cho người mới

Các loại giấy vẽ cho người mới: giấy phác thảo, giấy vẽ chì, giấy than và phấn tiên, chì màu, marker, mixed media, màu nước, canvas, giấy can; mặt giấy mịn hay nhám, định lượng g/m², khổ A4, A3, A2, cuộn giấy, tập hay tờ rời và checklist chọn mua.
Giấy vẽ nên chọn theo thứ bạn vẽ, không theo tên gọi trên bìa. Vẽ chì phác thảo thì giấy mỏng, rẻ, dùng thoải mái; vẽ than, phấn tiên cần giấy có mặt nhám để bột màu bám vào; marker cần giấy trơn, ít thấm; màu nước cần giấy dày chịu nước; acrylic và sơn dầu vẽ trên canvas đã quét lớp lót. Bảng dưới gom các loại giấy vẽ hay gặp để bạn chọn nhanh.
| Bạn vẽ bằng | Chọn giấy | Lý do |
|---|---|---|
| Chì, luyện nét, ký hoạ nhanh | Giấy phác thảo, giấy in 80 g/m² | Dùng nhiều tờ mà không tiếc |
| Chì đen trắng, bài kỹ | Giấy vẽ mặt hơi nhám, dày hơn giấy in | Giữ được nhiều lớp chì, tẩy ít xơ |
| Than, phấn tiên (pastel) | Giấy nhám, giấy vân, giấy màu | Mặt nhám giữ bột màu |
| Chì màu | Mịn cho chi tiết, hơi nhám cho lớp chồng | Chồng nhiều lớp cần giấy dày |
| Marker | Giấy marker, mặt trơn | Nét ít loang, ít thấm sang tờ dưới |
| Màu nước | Giấy màu nước, hay gặp 300 g/m² | Chịu nước, ít cong vênh |
| Acrylic, sơn dầu | Canvas khung, canvas bồi bảng, giấy canvas | Lớp lót giữ sơn trên mặt |
| Can lại hình, phác nhiều lớp | Giấy can | Nhìn xuyên được nét bên dưới |

Tám cách vẽ hay gặp và loại giấy hợp với từng cách. Số liệu theo các trang Wikipedia ghi ở chân hình, đọc ngày 03/11/2026. Ảnh minh hoạ do ColorME dựng.
Bài này là trang tổng hợp cho người đi làm mới bắt đầu học vẽ. Mỗi loại giấy có một đoạn ngắn: dùng cho việc gì, nhìn vào đâu khi chọn. Ba loại có bài riêng chi tiết (giấy màu nước, giấy vẽ truyện tranh, giấy vẽ kiến trúc) sẽ được dẫn link thay vì nhắc lại. Khi cần biết một khổ giấy bằng bao nhiêu pixel để quét tranh hay in, bạn tra nhanh bằng công cụ Khổ giấy và số pixel của ColorME. Bài không gợi ý hãng cụ thể.
Giấy vẽ khác giấy in thường ở đâu?
Ba điểm khiến một tờ giấy vẽ khác tờ giấy in văn phòng: mặt giấy, định lượng và độ bền.
- Mặt giấy (tooth, "răng giấy"). Wikipedia viết rằng giấy mịn hợp để vẽ chi tiết nhỏ, còn giấy có "tooth" giữ chất vẽ tốt hơn (Wikipedia, Drawing, đọc ngày 03/11/2026). Răng giấy là những gợn rất nhỏ trên bề mặt; chì, than, phấn bám vào các gợn đó.
- Định lượng (g/m², gsm). Là khối lượng của một mét vuông giấy: số càng lớn, giấy càng dày. Giấy văn phòng phổ biến là 80 g/m² (Wikipedia, Grammage).
- Độ bền. Cùng trang "Drawing" ghi rằng giấy không axit (acid-free) giữ màu và mặt giấy lâu hơn nhiều so với giấy làm từ bột gỗ như giấy báo, loại giấy ngả vàng và giòn nhanh. Giấy luyện tập thì không cần, nhưng bài bạn muốn giữ lâu nên vẽ trên giấy ghi "acid-free".

Ba loại mặt giấy, minh hoạ bằng mặt cắt phóng to: mặt càng nhám thì hạt chì, than, phấn (chấm vàng) càng có chỗ bám. Ảnh minh hoạ do ColorME dựng, không theo tỉ lệ thật.
Trên bìa tập giấy, mặt mịn thường ghi "smooth", "hot pressed" hoặc "plate"; mặt hơi nhám ghi "vellum", "medium" hoặc "cold pressed"; mặt nhám ghi "rough". Với giấy Bristol, Wikipedia mô tả mặt "plate" phẳng như kính, rất hợp bút mực, còn mặt "vellum" có vân vừa, hợp các chất vẽ cần ma sát như sáp màu, phấn, than (Wikipedia, Bristol board).
Định lượng giấy vẽ bao nhiêu là đủ?
Không có một con số chung cho mọi "giấy vẽ". Dưới đây là các mốc có nguồn để bạn đặt con số trên bìa vào đúng chỗ:

Các mốc định lượng giấy, từ giấy can mỏng đến vải canvas. Số liệu theo Wikipedia các trang ghi ở chân hình, đọc ngày 03/11/2026. Ảnh minh hoạ do ColorME dựng.
| Loại | Định lượng | Nguồn |
|---|---|---|
| Giấy in thường | 60 đến 120 g/m²; trên 160 g/m² được xem là giấy bìa (card) | Wikipedia, Paper |
| Giấy bìa (card stock) | Khoảng 135 đến 300 g/m² | Wikipedia, Card stock |
| Bristol (ở châu Âu) | 220 đến 250 g/m² | Wikipedia, Bristol board |
| Bìa cứng (paperboard) | Trên 250 g/m² theo ISO, có ngoại lệ | Wikipedia, Paperboard |
| Giấy can | Từ 42 đến hơn 280 g/m² | Wikipedia, Tracing paper |
| Vải canvas | Nhẹ 140 đến 170, vừa 240 đến 270, nặng 340 đến 410 g/m² | Wikipedia, Canvas |
Cách dùng con số trong thực tế: luyện nét, ký hoạ hằng ngày thì giấy mỏng là đủ; bài vẽ kỹ, tẩy nhiều, chồng nhiều lớp chì màu thì chọn tờ dày hơn rõ so với giấy in; có nước thì dùng giấy ghi rõ cho màu nước hoặc mixed media. Bài định lượng giấy gsm là gì giải thích kỹ hơn cách đọc và quy đổi g/m².
Giấy vẽ chì và giấy vẽ phác thảo
Wikipedia ghi rằng giấy báo (newsprint) và giấy đánh máy hữu ích để luyện tập và phác nhanh, còn cartridge là loại giấy vẽ cơ bản thường bán theo tập (Wikipedia, Drawing). Chuyển sang cách gọi ở Việt Nam, có thể chia làm hai nhóm:
- Giấy vẽ phác thảo (sketch). Mỏng, mặt hơi nhám, đóng thành tập dày. Dùng để ký hoạ, vẽ nháp bố cục, luyện nét hằng ngày. Một tờ giấy in A4 80 g/m² cũng làm được việc này khi bạn mới bắt đầu.
- Giấy vẽ chì cho bài kỹ. Dày hơn, mặt chặt hơn, chịu được nhiều lớp chì từ nhạt đến đậm và tẩy nhiều lần không xơ. Mặt hơi nhám hợp với đánh bóng chì mềm; mặt mịn hợp với nét mảnh, chi tiết nhỏ.

Bình thuỷ tinh và cành hoa vẽ bằng chì graphite: lớp nhạt mịn ở nền, nét đậm ở mép thuỷ tinh, cần giấy giữ được nhiều sắc độ. Bản vẽ: Elena Whitman · nguồn: Pinterest, elenawhitman.com
Trong tranh trên, nền gần như trơn và mềm, còn mép bình có nét đậm, sắc. Hai thứ đó cần một mặt giấy đủ chặt để lớp chì nhạt không lấm tấm, nhưng vẫn có chút răng để chì đậm bám. Nếu bạn mới tập ký hoạ, bài ký hoạ là gì, cách tập ký hoạ nhanh 10 phút mỗi ngày có lộ trình luyện tập trên giấy phác thảo.
Giấy vẽ than, phấn tiên: cần mặt nhám
Than vẽ để lại nét kém bám hơn chì, dễ tẩy và dễ tán; Wikipedia ghi rằng mặt giấy nhám giúp nhiều than bám hơn, và giấy màu (toned paper) cho phép dùng phấn trắng cùng than để tạo tương phản (Wikipedia, Charcoal (art)). Với phấn tiên, trang Pastel viết rằng nền vẽ cần "tooth" để phấn bám và giữ màu; có loại giấy phủ bột đá mịn (giấy nhám) cho việc này.
Một loại hay gặp là giấy vân sọc (laid, kiểu Ingres): theo Wikipedia, Ingres paper, vân sọc tạo mặt nhám với các đường song song, nhờ vậy giấy nhận than dễ và đều. Sáp dầu (oil pastel) cũng hợp giấy dày có răng: theo thói quen phổ biến, nhiều người dùng giấy cho phấn tiên, giấy màu hoặc giấy canvas để tô được nhiều lớp sáp.

Bình nước và quả táo vẽ bằng than đen và phấn trắng trên giấy màu nhám: màu giấy làm sắc độ trung gian, phấn trắng làm điểm sáng. Bản vẽ: Jolken Snouth · nguồn: Pinterest
Nhìn bức tĩnh vật trên: nền giấy nâu xám đã là sắc độ giữa, người vẽ chỉ thêm than cho vùng tối và phấn trắng cho vùng sáng trên miệng bình và quả táo. Hạt giấy hiện rõ ở vùng tán than, đó là răng giấy đang giữ bột. Vẽ cùng bài này trên giấy in trơn, than sẽ trượt và rơi bụi nhiều hơn.
Giấy vẽ chì màu: mịn hay nhám?
Chì màu tô nhiều lớp. Wikipedia mô tả hai kiểu: tô chồng lớp nhẹ thì lộ răng giấy, bề mặt hơi lấm tấm; ép mạnh để trộn màu (burnishing) thì màu lấp vào hạt giấy, mặt bóng và liền (Wikipedia, Colored pencil). Từ đó:
- Giấy mịn: hợp chi tiết nhỏ, nét sạch, minh hoạ kiểu sách. Răng giấy ít nên số lớp chồng cũng ít hơn.
- Giấy hơi nhám: chồng được nhiều lớp hơn, hợp tranh tả thực, chuyển màu mềm.
- Giấy màu (nâu, xám, đen): nền màu làm sẵn một sắc độ, bạn chỉ cần thêm vùng tối và vùng sáng.

Những viên đá cuội vẽ bằng chì màu trên giấy nâu: màu giấy làm nền, chì màu chồng nhiều lớp để ra vân đá và bóng đổ. Bản vẽ: Deborah L. Friedman · nguồn: Pinterest, dlfriedman.com
Phần nền trong tranh gần như không tô: màu nâu của giấy làm việc đó. Người mới hay chọn giấy trắng mịn cho chì màu rồi thấy màu "không lên"; thử một tờ hơi nhám hoặc giấy màu là cách nhanh để thấy khác biệt.
Giấy vẽ marker: trơn, ít thấm
Bút marker, nhất là loại mực cồn, ngấm rất nhanh vào giấy. Giấy thường sẽ làm nét loang ra và thấm sang tờ bên dưới. Giấy dành cho marker thường mặt trơn, có lớp phủ hoặc lớp chặn ở mặt sau để mực ít thấm xuyên, trên bìa hay ghi "marker paper" hoặc "bleedproof". Đây là cách các nhà sản xuất ghi phổ biến, không phải một tiêu chuẩn; cách chắc nhất là thử.

Marker mực cồn có nhiều màu đánh số; nét tô chồng nhanh nên cần giấy ít thấm. Ảnh: Glen Carrie / Unsplash
Cách thử nhanh: đặt một tờ giấy trắng khác bên dưới, tô kín một ô vuông bằng marker đậm màu, đếm đến năm rồi nhấc lên. Mực thấm sang tờ dưới nhiều thì giấy đó chỉ hợp để phác, không hợp tô mảng lớn. Nhiều loại giấy marker mỏng và hơi trong, đặt lên bản phác chì là nhìn thấy nét để đi lại bằng bút kim, giống cách dùng giấy can.

Phác thảo ghế và sofa bằng bút kim và marker mực cồn: mảng màu tô nhanh, để trống phần trắng làm điểm sáng. Bản vẽ: Tinta. (ký "Kwago" trên bản vẽ) · nguồn: Pinterest, YouTube
Kiểu phác này hay gặp trong thiết kế sản phẩm và nội thất: nét bút kim trước, marker sau, để trống một dải giấy trắng làm phần sáng của vải và gỗ. Giấy càng ít loang, mép mảng màu càng gọn.
Giấy mixed media: một tập cho nhiều chất liệu
"Mixed media" trên bìa tập giấy có nghĩa là giấy được làm để dùng chung nhiều chất: chì, bút mực, marker, màu nước pha loãng, acrylic lớp mỏng. Giấy thường dày hơn giấy phác thảo và có mặt hơi nhám. Đây là cách gọi thương mại phổ biến, không có định nghĩa chuẩn; mỗi nhà sản xuất có mức chịu nước khác nhau, nên đọc dòng ghi trên bìa và thử một vệt màu nước trước khi vẽ bài thật. Với người mới chưa rõ sẽ theo chất liệu nào, một tập mixed media khổ A4 là lựa chọn an toàn để thử nhiều thứ.
Giấy vẽ màu nước (tóm tắt)
Màu nước cần giấy chịu được nước: giấy thường sẽ phồng, gợn, có khi rách khi ướt. Wikipedia chia giấy màu nước theo mặt: ép nóng (mịn), ép nguội (có vân) và mặt thô (Wikipedia, Watercolor paper). Mức định lượng hay gặp là 300 g/m². Chất liệu cotton hay bột gỗ, dạng khối hay tập, cách dán băng keo chống nhăn đều có trong bài riêng: giấy vẽ màu nước: định lượng, cotton hay cellulose, ép nóng hay ép nguội.
Giấy vẽ canvas, canvas khung và canvas bồi bảng
Canvas là vải dệt trơn, ngày nay thường làm từ cotton hoặc lanh (linen), và là nền vẽ phổ biến cho sơn dầu và acrylic, thường căng trên khung gỗ (Wikipedia, Canvas). Trước khi vẽ, vải được quét lớp lót gesso; với sơn dầu, lớp này ngăn dầu chạm trực tiếp vào sợi vải, vốn làm vải mục dần. Canvas bán sẵn thường đã được quét hai đến ba lớp lót và dùng được ngay. Trang Gesso ghi thêm rằng lớp lót acrylic tạo mặt mềm, dẻo, không hút nước.

Canvas căng khung, đã quét lót trắng, mặt vải còn thấy vân dệt. Ảnh: Sebastian Schuster / Unsplash
Khi tìm "giấy vẽ canvas", bạn sẽ gặp ba dạng:
| Dạng | Là gì | Hợp với |
|---|---|---|
| Canvas khung | Vải đã lót, căng sẵn trên khung gỗ | Tranh treo tường, bài hoàn chỉnh |
| Canvas bồi bảng | Vải đã lót dán lên tấm bìa cứng | Bài tập, vẽ ngoài trời, cất gọn |
| Giấy canvas | Giấy dày in hoặc ép vân vải, có lớp phủ | Luyện acrylic, thử màu, bài nhỏ |
Ba dạng này là cách phân loại theo sản phẩm hay gặp trên thị trường. Người mới tập acrylic nên luyện trên giấy canvas hoặc canvas bồi bảng nhỏ, để canvas khung cho bài muốn giữ.

Tranh acrylic trên canvas: các lớp màu kéo dọc và lớp sơn dày ở vệt nắng trên mặt nước, canvas đã lót giữ được cả lớp mỏng lẫn lớp dày. Tranh: Svitlana Tykhomyrova ("Rose glow") · nguồn: Pinterest (đăng lại từ Saatchi Art)
Muốn bắt đầu với acrylic, bài vẽ tranh acrylic cho người mới hướng dẫn dụng cụ và bài đầu tiên trên canvas.
Giấy can và giấy vẽ truyện tranh (tóm tắt)
Giấy can là giấy có độ đục thấp, cho ánh sáng đi qua để can lại hình bên dưới; Wikipedia ghi rằng nó dùng để thử nghiệm trên một bản vẽ đang làm dở và chuyển hình từ tờ này sang tờ khác (Wikipedia, Drawing). Cách dùng giấy can trong kiến trúc, khổ A0 đến A4, khung tên và gấp bản vẽ có trong bài giấy vẽ kiến trúc, giấy vẽ kỹ thuật.
Giấy vẽ truyện tranh thường là giấy mịn, dày, in sẵn các đường xanh nhạt để chia khung và vùng an toàn. Khổ B4, A4, cách đọc ba đường kẻ và cách tự kẻ giấy trên A4 có trong bài giấy vẽ truyện tranh, giấy vẽ manga.
Khổ giấy vẽ A4, A3, A2 và cuộn giấy vẽ

Khổ A5 đến A2 vẽ đúng tỉ lệ, kích thước bằng mm theo Wikipedia "Paper size", đọc ngày 03/11/2026. Cuộn giấy không theo tỉ lệ. Ảnh minh hoạ do ColorME dựng.
| Khổ | Kích thước (mm) | Hợp với |
|---|---|---|
| A5 | 148 × 210 | Sổ ký hoạ bỏ túi, vẽ ngoài đường |
| A4 | 210 × 297 | Tập luyện hằng ngày, bài nhỏ, dễ quét |
| A3 | 297 × 420 | Bài vẽ ở bàn, tĩnh vật, chân dung |
| A2 | 420 × 594 | Bài lớn, vẽ than, cần bảng vẽ |
| Cuộn | Cắt theo độ dài cần | Khổ lớn, phác nhiều phương án, vẽ tường |
Kích thước A theo chuẩn ISO 216 (Wikipedia, Paper size): mỗi khổ bằng một nửa khổ lớn hơn liền kề. Với người mới, A4 là khổ mang theo dễ và quét bằng máy văn phòng được; A3 cho bài kỹ ở bàn. A2 trở lên cần bảng kẹp hoặc bàn vẽ nghiêng, và khó quét bằng máy thường. Cuộn giấy vẽ tiện khi bạn cần khổ lớn hơn A2, hoặc muốn phác liên tục nhiều phương án; nhược điểm là giấy có xu hướng cuộn lại, cần chặn góc hoặc dán băng keo giấy trước khi vẽ.
Số pixel của từng khổ khi quét tranh có trong bài khổ giấy A4, A3, A5; với khổ lớn hơn, xem bài khổ giấy A0, A1, A2.
Tập giấy, sketchbook hay tờ rời?
Wikipedia định nghĩa sketchbook là một quyển hoặc một tập có trang trắng để phác thảo, và ghi rằng giấy trong sketchbook khác nhau theo định lượng và răng giấy, có màu từ trắng, kem đến xám (Wikipedia, Sketchbook). Trên thị trường, giấy vẽ thường đóng theo bốn kiểu:
- Tập lò xo: mở phẳng 360 độ, xé tờ dễ. Hợp ký hoạ, luyện tập.
- Sketchbook đóng gáy (khâu hoặc dán): giữ bài theo thứ tự như một cuốn nhật ký vẽ, khó xé sạch.
- Tập dán keo một cạnh, khối dán bốn cạnh: giấy được giữ phẳng khi vẽ; khối dán bốn cạnh hay dùng cho màu nước.
- Tờ rời: khổ lớn, chọn đúng từng loại giấy, hợp bài hoàn chỉnh hoặc để thử nhiều loại giấy trước khi mua tập.

Tập lò xo mở phẳng: tiện vẽ ở bàn và xé tờ khi cần. Ảnh: Ray T / Unsplash
Checklist mua giấy vẽ theo chức năng

Sáu câu hỏi trước khi mua giấy vẽ, không cần biết tên hãng. Ảnh minh hoạ do ColorME dựng.
- Bạn vẽ bằng gì? Mực, marker, chi tiết nhỏ: mặt mịn. Chì đen trắng, chì màu nhiều lớp: hơi nhám. Than, phấn tiên: nhám hoặc giấy màu.
- Có dùng nước không? Có: chọn giấy ghi rõ cho màu nước hoặc mixed media, đừng dùng giấy phác thảo mỏng.
- Đọc số g/m² trên bìa. Luyện nét: giấy mỏng. Bài kỹ, tẩy nhiều: dày hơn rõ so với giấy in 80 g/m².
- Dạng đóng: lò xo để luyện, sketchbook đóng gáy để giữ bài, khối dán bốn cạnh khi cần giấy phẳng, tờ rời cho khổ lớn.
- Khổ giấy: A4 nếu hay mang theo, A3 nếu vẽ ở bàn, A2 hoặc cuộn khi có bảng vẽ.
- Bài muốn giữ lâu: tìm chữ "acid-free" trên bìa.
- Thử trước khi mua nhiều: mua một tập nhỏ, vẽ một ô đậm, tẩy một góc, quét một vệt nước nếu cần; giấy qua được bài thử mới mua số lượng.
Người mới nên bắt đầu với giấy gì?
Nếu chưa biết sẽ theo chất liệu nào, ba thứ sau đủ cho vài tháng đầu: một tập phác thảo A4 hoặc A5 để luyện nét mỗi ngày, một tập giấy vẽ dày hơn khổ A4 (hoặc mixed media) cho bài kỹ, và vài tờ giấy của chất liệu bạn muốn thử tiếp (màu nước, giấy màu cho than, hoặc giấy canvas). Danh sách bút, chì, tẩy đi kèm có trong bài dụng cụ vẽ cho người mới cần mua gì.
Nhiều người học vẽ tay một thời gian rồi chuyển sang vẽ trên máy, nơi "giấy" là canvas số và bút là bảng vẽ điện tử. Khi muốn đi tiếp hướng đó, khoá Digital Painting của ColorME dạy vẽ số từ nền tảng.
Câu hỏi thường gặp về giấy vẽ
Có những loại giấy vẽ nào?
Các loại giấy vẽ hay gặp gồm giấy phác thảo, giấy vẽ chì (mịn hoặc hơi nhám), giấy nhám và giấy màu cho than và phấn tiên, giấy marker, giấy mixed media, giấy màu nước, canvas và giấy canvas, giấy can và giấy vẽ truyện tranh. Chọn theo chất vẽ bạn dùng.
Giấy vẽ chì loại nào tốt cho người mới?
Để luyện nét, một tập giấy phác thảo hoặc giấy in A4 80 g/m² là đủ. Cho bài vẽ kỹ, chọn giấy dày hơn rõ so với giấy in, mặt hơi nhám nếu bạn đánh bóng nhiều, mặt mịn nếu bạn vẽ nét mảnh và chi tiết.
Giấy vẽ chì màu nên chọn mịn hay nhám?
Giấy mịn hợp chi tiết nhỏ và nét sạch; giấy hơi nhám chồng được nhiều lớp màu hơn và chuyển màu mềm hơn. Giấy màu nâu, xám giúp làm sẵn sắc độ nền.
Giấy vẽ canvas là gì, khác canvas khung thế nào?
Giấy canvas là giấy dày có vân giống vải và lớp phủ để vẽ acrylic, sơn dầu, hợp luyện tập. Canvas khung là vải thật đã quét lót, căng trên khung gỗ, dùng cho bài hoàn chỉnh. Canvas bồi bảng là vải đã lót dán lên tấm bìa cứng.
Vẽ marker dùng giấy gì để không bị lem?
Dùng giấy ghi "marker paper" hoặc "bleedproof": mặt trơn, ít thấm xuyên. Đặt một tờ giấy khác bên dưới khi vẽ và thử tô một ô đậm trước để xem mực có thấm sang tờ dưới không.
Nên mua giấy vẽ A4 hay A3?
A4 (210 × 297 mm) dễ mang theo, dễ quét, hợp luyện tập hằng ngày. A3 (297 × 420 mm) cho bài vẽ kỹ ở bàn. Người mới thường bắt đầu với A4 rồi thêm A3 khi vẽ tĩnh vật, chân dung.
Tác giảCOLOR ME














