Tutorial · 03/11/2026
Giấy vẽ kiến trúc, giấy vẽ kỹ thuật: khổ giấy, định lượng, giấy can và cách chọn

Giấy vẽ kiến trúc, giấy vẽ kỹ thuật gồm giấy vẽ trắng, giấy can 42 đến 280 g/m² và film; khổ A0 đến A4, lề 20 và 10 mm, khung tên 180 mm; bút chì H, 2H, nét 0,25 đến 0,7 mm; tỉ lệ 1:50, 1:100; gấp bản vẽ về A4; quét 300 DPI; checklist chọn mua.
Giấy vẽ kiến trúc và giấy vẽ kỹ thuật là hai nhóm giấy chính: tờ giấy trắng dày, mặt trơn để vẽ chì và đi nét bút kim, và giấy can mờ, cho ánh sáng đi qua để phác nhiều lớp, can lại hoặc đi nét mực. Khổ giấy theo chuẩn A: A4 (210 × 297 mm) cho bài tập và chi tiết nhỏ, A3 (297 × 420 mm) cho bản vẽ phổ biến nhất, A2, A1, A0 cho mặt bằng và bản trình bày lớn. Muốn biết mỗi khổ cần bao nhiêu pixel khi quét hay in, tra nhanh bằng công cụ Khổ giấy và số pixel của ColorME.
| Bạn cần | Chọn |
|---|---|
| Bài tập vẽ kỹ thuật, hình hoạ, chi tiết nhỏ | Giấy vẽ trắng dày khổ A4 hoặc A3, mặt trơn |
| Phác ý mặt bằng, thử nhiều phương án | Giấy can mỏng dạng cuộn, đặt chồng lên nhau |
| Bản vẽ đi nét mực sạch, cần nhân bản | Giấy can dạng tờ, định lượng dày hơn |
| Bản gốc cần đo trực tiếp, lưu nhiều năm | Film vẽ kỹ thuật (polyester), không co giãn |
| In bản vẽ CAD ra để kiểm tra, ghi chú | Giấy in 80 g/m² hoặc giấy bond |

Một tờ A0 (841 × 1189 mm) chia ra A1, A2, A3, A4, vẽ đúng tỉ lệ. Số đo theo Wikipedia "Paper size", đọc ngày 03/11/2026. Ảnh minh hoạ do ColorME dựng.
Bài này dành cho người đi làm đang học kiến trúc, nội thất hoặc vẽ kỹ thuật và cần mua giấy lần đầu. Nội dung xếp theo chức năng, không gợi ý hãng cụ thể.
Giấy vẽ kỹ thuật là gì, khác giấy A4 in văn phòng ra sao?
Giấy in văn phòng phổ biến là 80 g/m² (Wikipedia, Grammage). Nó mỏng, nhẹ, đủ để in bản vẽ CAD ra xem, nhưng khi vẽ tay bằng chì cứng, ấn thước và tẩy nhiều lần, mặt giấy dễ xơ và lõm. Giấy vẽ kỹ thuật được làm cho việc đó: dày hơn, mặt trơn và chặt, giữ được nét chì mảnh, tẩy được mà không rách.
"Giấy vẽ kiến trúc" thường là cả bộ: giấy vẽ trắng, giấy can, đôi khi thêm film polyester. Bảng dưới gom năm loại hay gặp.

Năm loại giấy cho vẽ kỹ thuật và kiến trúc, xếp theo việc dùng. Số liệu theo các trang Wikipedia ghi ở chân hình. Ảnh minh hoạ do ColorME dựng.
| Loại giấy | Định lượng | Hợp với |
|---|---|---|
| Giấy in văn phòng | 80 g/m² | In kiểm tra, nháp, ghi chú tay |
| Giấy bond | 60, 75, 90 g/m² là phổ biến | In bản vẽ, đi nét chì nhẹ |
| Giấy vẽ trắng (tờ dày) | Không có chuẩn chung, đọc số in trên bìa tập | Bài dựng hình, bản vẽ chì, nét bút kim |
| Giấy can | Khoảng 42 đến hơn 280 g/m², thường từ 60 g/m² trở lên | Phác nhiều lớp, can lại, bản vẽ mực |
| Film vẽ kỹ thuật | Tấm polyester, không phải giấy | Bản gốc lưu lâu, cần đo trực tiếp |
Số của giấy bond theo Wikipedia, Bond paper; khoảng định lượng giấy can theo Wikipedia, Tracing paper (đọc ngày 03/11/2026). Nếu bạn chưa quen con số g/m², bài định lượng giấy gsm là gì giải thích cách đọc và so sánh.
Giấy can là gì? Định lượng giấy can và khi nào nên dùng
Giấy can (tracing paper) là giấy có độ đục thấp, ánh sáng đi qua được, nên đặt lên một bản vẽ khác thì nhìn thấy nét bên dưới để can lại. Wikipedia ghi rằng dạng giấy can hiện đại được phát triển cho kiến trúc sư và kỹ sư thiết kế, để bản vẽ có thể nhân bản chính xác bằng máy in diazo. Cùng trang đó cho biết có cách sản xuất cho ra giấy can trong và đều ở dải định lượng từ 42 đến hơn 280 g/m², và giấy can thường được làm từ 60 g/m² trở lên.
Trong thực tế học và làm kiến trúc, giấy can dùng theo hai kiểu:
- Cuộn giấy can mỏng để phác ý. Kéo một đoạn, đặt lên mặt bằng hiện trạng, vẽ phương án. Không ưng thì đặt tờ mới lên trên, giữ lại phần tốt, sửa phần chưa ổn. Giấy mỏng nhìn xuyên rõ, nên dễ so phương án mới với phương án cũ.
- Tờ giấy can dày để vẽ bản chính. Đi nét chì cứng hoặc bút kim, mực đen. Giấy dày hơn ít nhăn, tẩy và cạo sửa được, quét hay in ra vẫn sạch.

Bốn phương án mặt bằng cho cùng một khu, phác bằng bút mực trên giấy can màu vàng (tác giả gọi là "butter sheet"). Bản vẽ: Md Javed (@m.javedd) · nguồn: Pinterest, Instagram
Cùng một khung tường, tác giả thử bốn cách bố trí, nét mực nhanh, không cần thước. Đây là việc giấy can làm tốt nhất.
Giấy can vẫn là giấy, nên vẫn co giãn theo độ ẩm và nhiệt độ. Khi cần một bản gốc không đổi kích thước theo thời tiết, người ta dùng film.
Film vẽ kỹ thuật: khi nào cần thay giấy?
Film vẽ kỹ thuật (drafting film) là tấm polyester có một hoặc hai mặt mờ để nhận chì và mực. Theo Wikipedia, Drafting film (đọc ngày 03/11/2026), film bền và ổn định kích thước hơn giấy, vì giấy làm từ sợi hữu cơ nên co giãn theo độ ẩm và nhiệt độ.
Cùng nguồn đó ghi hai lưu ý khi vẽ tay trên film: nét mực thường xoá được bằng gôm vinyl không có hạt mài, và dầu từ tay để lại vết trơn mà mực, chì không bám được. Với người mới học, film chưa cần thiết; giấy vẽ trắng và giấy can đã đủ cho hầu hết bài tập.
Khổ giấy vẽ kỹ thuật: A0, A1, A2, A3, A4 bao nhiêu mm?
Bản vẽ kỹ thuật dùng khổ A theo chuẩn ISO 216. Mỗi khổ bằng nửa khổ lớn hơn liền kề, và mọi khổ có cùng tỉ lệ cạnh 1 : √2, nên thu nhỏ A1 về A3 hay phóng A3 lên A1 không bị méo hình (Wikipedia, Paper size, đọc ngày 03/11/2026).
| Khổ | Kích thước (mm) | Vùng vẽ theo ISO 5457 (mm) | Thường dùng |
|---|---|---|---|
| A0 | 841 × 1189 | 821 × 1159 | Bản trình bày lớn, tổng mặt bằng |
| A1 | 594 × 841 | 574 × 811 | Bản vẽ kiến trúc, đồ án |
| A2 | 420 × 594 | 400 × 564 | Mặt bằng, mặt đứng nhà nhỏ |
| A3 | 297 × 420 | 277 × 390 | Bản vẽ phổ biến nhất, in văn phòng được |
| A4 | 210 × 297 | xem bên dưới | Bài tập, chi tiết, bìa hồ sơ |
Wikipedia ghi rằng chuẩn ISO 5457 cho giấy vẽ dùng khổ đã xén bằng khổ A từ A4 trở lên; A0 đến A3 đặt nằm ngang, A4 đặt đứng. Cột vùng vẽ ở trên lấy từ bảng của trang đó. Với A4, trang tiếng Anh và trang tiếng Đức ghi hai con số vùng vẽ khác nhau, nên bài không đưa một số cố định: khi vẽ A4, chừa lề như phần tiếp theo là đủ dùng.
Nếu bạn cần đổi các khổ này sang cm hoặc pixel cho file in, bài khổ giấy A4, A3, A5 kích thước cm và số pixel để in có bảng đầy đủ.
Lề, khung bản vẽ và khung tên chừa bao nhiêu?
Trang tiếng Đức về chuẩn khung tên ISO 7200 mô tả: vùng vẽ được bao bằng một nét liền đậm, cách mép giấy 10 mm, riêng mép trái 20 mm. Khung tên rộng 180 mm, chiều cao tuỳ ý, đặt ở góc dưới bên phải vùng vẽ; trên tờ A4 đặt đứng thì khung tên nằm ở phần dưới vùng vẽ (de.wikipedia, ISO 7200, đọc ngày 03/11/2026). Con số này khớp với bảng vùng vẽ ở trên: A3 rộng 420 mm, trừ 20 mm bên trái và 10 mm bên phải còn 390 mm.

Tờ A3 vẽ đúng tỉ lệ với khung vẽ và khung tên. Studio Gạch Mộc và các chữ viết tắt là mẫu ColorME tự đặt; cách chia ô trong khung tên chỉ là ví dụ. Ảnh minh hoạ do ColorME dựng.
ISO 7200 quy định tám ô thông tin bắt buộc trong khung tên: chủ sở hữu bản vẽ, số bản vẽ, ngày phát hành, số tờ, tên bản vẽ, người duyệt, người vẽ và loại tài liệu. Trang tiếng Anh Engineering drawing liệt kê cùng tám ô và cho biết vị trí quen thuộc nhất của khung tên là góc dưới bên phải. Nếu lớp có mẫu khung tên riêng, hãy làm theo mẫu đó.
Mẹo nhỏ: kẻ khung vẽ và khung tên bằng chì cứng trước tiên, để biết chính xác còn bao nhiêu chỗ cho hình.
Bút chì, bút kim và độ dày nét cho bản vẽ kỹ thuật
Bút chì được phân theo thang chữ H (cứng) và B (đen, mềm), với F và HB ở giữa. Bảng trong Wikipedia, Pencil xếp H và 2H vào nhóm cứng dùng cho vẽ kỹ thuật, 3H đến 5H cho bản vẽ chi tiết, HB và F cho viết và vẽ đường nét, B đến 3B cho vẽ tay. Trang đó cũng nói rõ không có chuẩn chung: 2H của hãng này có thể hơi khác 2H của hãng kia.
Trang Engineering drawing gợi ý một cách chia: nét bao (đường nét đậm nhất) dùng chì mềm hơn HB, còn nét kích thước, nét khuất, nét tâm dùng 2H. Với bút kim, độ dày nét tính bằng mm. Bộ đầy đủ theo các cỡ của ISO 128 là 0,10; 0,13; 0,18; 0,25; 0,35; 0,50; 0,70; 1,0; 1,4 và 2,0 mm (Wikipedia, Technical pen).

Hai nhóm độ dày nét và thang độ cứng bút chì. Các nét vẽ đúng tỉ lệ độ dày với nhau. Ảnh minh hoạ do ColorME dựng.
| Nhóm nét | Ưu tiên cho khổ | Mảnh | Vừa | Đậm |
|---|---|---|---|---|
| 0,5 | A2 trở xuống | 0,25 mm | 0,35 mm | 0,5 mm |
| 0,7 | A1 và A0 | 0,35 mm | 0,5 mm | 0,7 mm |
Bảng nhóm nét theo trang tiếng Đức Technische Zeichnung (đọc ngày 03/11/2026): nét đậm cho cạnh thấy và đường bao, nét mảnh cho đường kích thước và đường gióng, nét vừa vẽ dạng nét đứt cho cạnh khuất. Nếu chỉ mua được ba cây bút kim, hãy chọn đúng ba cỡ của một nhóm.

Bút chì nhiều độ cứng, bút nối chì và bút di chì. Với bản vẽ kỹ thuật, nhóm chì cứng dùng nhiều hơn chì mềm. Ảnh: andrew davies / Unsplash
Giấy trơn, chặt giữ nét bút kim sắc; giấy xốp làm nét loe. Nét chì mềm dễ lem khi tay quệt qua, nên vẽ từ trên xuống, từ trái sang phải (nếu thuận tay phải).

Mặt cắt một công trình, vẽ hoàn toàn bằng bút mực: đường bao đậm, mảng tường đá và gạch chéo bằng nét mảnh dày đặc. Bản vẽ: xXxslipknot771xXx · nguồn: Pinterest, DeviantArt
Phần bị cắt qua dùng nét đậm nên nổi lên ngay, vân đá và mảng tối dùng nét mảnh dày đặc. Cùng một độ dày thì người xem khó biết đâu là phần bị cắt.
Tỉ lệ bản vẽ và thước tỉ lệ: chọn khổ giấy theo tỉ lệ
Bản vẽ kiến trúc hầu như luôn vẽ theo tỉ lệ. Trang Engineering drawing nêu ví dụ: mặt bằng thường vẽ 1:50, chi tiết 1:25, tổng mặt bằng 1:200 hoặc 1:100. Dãy tỉ lệ thu nhỏ theo ISO 5455 là 1:2, 1:5, 1:10 và các bội số 10 của chúng (de.wikipedia, Technische Zeichnung).

Một mét ngoài đời còn bao nhiêu mm trên giấy ở từng tỉ lệ, và ví dụ chọn khổ cho mặt bằng nhà 5 × 20 m. Ảnh minh hoạ do ColorME dựng.
Cách chọn khổ giấy rất đơn giản: lấy kích thước thật chia cho tỉ lệ, rồi so với vùng vẽ. Ví dụ một ngôi nhà phố 5 × 20 m:
- Ở 1:100, mặt bằng còn 50 × 200 mm, nằm gọn trên vùng vẽ A3 (390 × 277 mm), còn chỗ ghi kích thước và chú thích.
- Ở 1:50, mặt bằng dài 400 mm, vượt chiều dài vùng vẽ A3 (390 mm), nên phải lên A2 (vùng vẽ 564 × 400 mm).
Nên vẽ thêm một thước tỉ lệ đồ hoạ (thanh chia mét) cạnh hình. Khi bản vẽ bị in phóng hay thu nhỏ, thanh này co giãn theo nên vẫn đo được, còn con số "1:100" ghi trong khung tên chỉ đúng khi in đúng khổ gốc.

Thước kẻ dài và thước đo góc: hai dụng cụ đi cùng tờ giấy vẽ ngay từ buổi học đầu. Ảnh: Joachim Schnürle / Unsplash
Gấp bản vẽ A1, A2, A3 về khổ A4 thế nào?
Bản vẽ khổ lớn thường được gấp về A4 để cất vào bìa hồ sơ. Chuẩn Đức DIN 824 quy định cách gấp bản vẽ A0, A1, A2, A3 về A4: khổ càng lớn càng nhiều nếp; A3 chỉ cần nếp dọc, từ A2 trở lên thêm nếp ngang. Có kiểu gấp chừa mép để đục lỗ đóng tập và kiểu không chừa. Ở mọi kiểu, khung tên nằm trọn ở mặt trên và đọc được mà không cần mở hay xoay tờ giấy (de.wikipedia, DIN 824, đọc ngày 03/11/2026).

Gấp A3 về A4 là một nếp ở giữa; A2 cần thêm nếp ngang. Vị trí từng nếp của A2 trong hình là minh hoạ nguyên tắc, không phải số đo chuẩn. Ảnh minh hoạ do ColorME dựng.
Với A3, phép gấp chính xác vì A3 gập đôi đúng bằng A4. Gập nửa trái ra phía sau, nửa phải có khung tên nằm trên cùng. Với A2, A1, A0, số đo từng nếp có trong bản chuẩn; trang Wikipedia chỉ mô tả nguyên tắc, nên nếu lớp hoặc công ty có quy định gấp riêng, hãy làm theo quy định đó. Gấp bản in, không gấp bản gốc trên giấy can hay film.
Quét và in bản vẽ: bao nhiêu DPI, có giữ đúng tỉ lệ không?
Khi quét bản vẽ tay để in lại hay đưa vào portfolio, 300 DPI là mức an toàn; phần hỏi đáp của công cụ Khổ giấy ghi: "300 DPI cho tờ rơi, danh thiếp, sách; 150 DPI đủ cho poster xem từ xa". Số pixel tăng rất nhanh theo khổ giấy. Ảnh dưới là kết quả thật của công cụ Khổ giấy ColorME, dùng khi chưa đăng nhập, ngày 03/11/2026: A1 ở 300 DPI cần 7016 × 9933 px (khoảng 69,7 MP), A3 cần 3508 × 4961 px (khoảng 17,4 MP).

Ảnh chụp màn hình thật của colorme.vn/tools/kho-giay: bấm khổ A1, rồi A3, ở 300 DPI. Bài chỉ dùng phần chọn khổ và chuyển sang pixel; không thử phần tải ảnh lên. Ảnh minh hoạ do ColorME dựng từ ảnh chụp.
Nhiều máy quét văn phòng chỉ nhận tới A4 hoặc A3, nên bản A1 thường được quét ở tiệm in có máy quét khổ lớn, hoặc chụp bằng điện thoại khi chỉ cần xem.
Về in, có hai điều nên nhớ:
- In đúng 100%. Chọn cỡ thật (actual size) trong hộp thoại in, tắt "vừa khổ giấy" (fit to page). Nếu không, máy tự thu nhỏ một chút và bản vẽ không còn đúng tỉ lệ ghi trong khung tên.
- Thu nhỏ theo bậc khổ A thì tỉ lệ đổi rõ ràng. Vì các khổ A cùng tỉ lệ cạnh 1 : √2, thu một bậc (A1 về A2) là nhân cạnh với khoảng 0,71; thu hai bậc (A1 về A3) là nhân đúng 0,5. Bản vẽ 1:100 trên A1 in ra A3 sẽ thành 1:200. Thước tỉ lệ đồ hoạ trên bản vẽ vẫn đo đúng.
Nếu cần đổi qua lại giữa mm, cm và pixel theo DPI, xem thêm bài đổi pixel sang cm theo DPI.
Giấy vẽ kiến trúc khác giấy ký hoạ kiến trúc thế nào?
Bản vẽ kỹ thuật cần nét đều, đúng tỉ lệ, nên hợp giấy trơn và giấy can. Ký hoạ kiến trúc thì khác: vẽ nhanh ngoài hiện trường, nét có nhấn nhá, đậm nhạt, nên người vẽ thường dùng sổ ký hoạ giấy dày hơn, mặt hơi nhám, chịu được bút mực và màu nước nhẹ.

Ký hoạ chùa Một Cột (Hà Nội) bằng bút sắt trên giấy màu ngà: nét tự do, đậm nhạt theo bóng đổ, khác hẳn nét đều của bản vẽ kỹ thuật. Bản vẽ: KTS Đinh Hải (theo chữ ký trên tranh) · nguồn: Pinterest, tài khoản pqarchitect
Ký hoạ giúp nhìn tỉ lệ, khối và bóng đổ của công trình thật; bản vẽ kỹ thuật giúp diễn đạt chính xác. Muốn luyện ký hoạ mỗi ngày, xem bài ký hoạ là gì và cách tập 10 phút mỗi ngày. Nếu bạn quan tâm cả màu nước cho bản trình bày, bài giấy vẽ màu nước nói kỹ về định lượng và mặt giấy.
Các bản vẽ của tác giả khác trong bài được tìm qua Pinterest và ghi tên, nguồn ngay dưới hình; bản quyền thuộc về tác giả.
Checklist chọn mua giấy vẽ kỹ thuật theo chức năng
Trước khi mua, tự hỏi bạn sẽ làm gì với tờ giấy, rồi đối chiếu danh sách sau:
- Bài tập hình hoạ, vẽ kỹ thuật ở lớp: giấy vẽ trắng dày, mặt trơn, khổ theo yêu cầu của lớp (thường A3 hoặc A4). Thử tẩy một nét chì 2H ở góc giấy: mặt giấy không xơ là được.
- Phác ý mặt bằng, mặt đứng: một cuộn giấy can mỏng. Chiều rộng cuộn nên lớn hơn khổ bạn hay vẽ để đặt chồng lên bản in A3 hoặc A2.
- Bản vẽ mực cần nhân bản: giấy can dạng tờ, định lượng dày hơn loại cuộn. Thử một nét bút kim 0,5 mm: nét không loe, mực khô không làm giấy gợn.
- Bản gốc lưu lâu, cần đo trực tiếp: film polyester, kèm gôm vinyl.
- In bản vẽ CAD ra kiểm tra: giấy in 80 g/m² hoặc giấy bond là đủ.
- Đi kèm: bút chì cứng (H, 2H) và một cây mềm hơn HB cho nét bao; bộ ba bút kim của một nhóm nét (0,25 · 0,35 · 0,5 mm); thước kẻ dài; thước tỉ lệ; băng dính giấy để cố định tờ giấy lên bàn.
- Kiểm tra trên bao bì: khổ giấy (A0 đến A4 hay cuộn), định lượng g/m², loại giấy (giấy vẽ, giấy can, film). Bao bì không ghi định lượng thì so độ dày với một tờ giấy in 80 g/m².
Nếu bạn học nội thất, bài ngành thiết kế nội thất học gì cho cái nhìn tổng quát về con đường từ bản vẽ tay sang phần mềm. Khi đã quen đọc mặt bằng, mặt đứng, bước tiếp theo là dựng khối: bài bản vẽ 3D là gì và khoá học thiết kế 3D cơ bản của ColorME (có bài dựng phòng isometric) là chỗ bắt đầu.
Cùng chủ đề giấy vẽ, bài giấy vẽ truyện tranh, giấy vẽ manga giải thích khổ B4 và khung an toàn cho người vẽ truyện.
Câu hỏi thường gặp về giấy vẽ kiến trúc, giấy vẽ kỹ thuật
Giấy vẽ kỹ thuật A4 là loại giấy gì?
Là tờ giấy vẽ trắng, dày hơn giấy in 80 g/m², mặt trơn, khổ 210 × 297 mm, dùng cho bài tập vẽ kỹ thuật và chi tiết nhỏ. Trên A4 đặt đứng, khung tên nằm ở phần dưới vùng vẽ, khung vẽ lùi 10 mm, riêng mép trái 20 mm.
Giấy can là gì và dùng để làm gì?
Giấy can là giấy mờ cho ánh sáng đi qua, dùng để phác nhiều lớp chồng lên nhau, can lại hình bên dưới và vẽ bản mực. Định lượng giấy can trải từ khoảng 42 đến hơn 280 g/m², thường từ 60 g/m² trở lên.
Giấy vẽ kiến trúc nên chọn định lượng bao nhiêu?
Không có chuẩn chung cho giấy vẽ trắng; hãy chọn tờ dày hơn rõ so với giấy in 80 g/m² và thử tẩy nét chì 2H ở góc giấy. Với giấy can, loại mỏng dạng cuộn để phác, loại dày dạng tờ cho bản vẽ chính.
Khổ giấy A0, A1, A2, A3 kích thước bao nhiêu?
A0 là 841 × 1189 mm, A1 là 594 × 841 mm, A2 là 420 × 594 mm, A3 là 297 × 420 mm và A4 là 210 × 297 mm. Mỗi khổ bằng nửa khổ lớn hơn liền kề.
Vẽ kỹ thuật dùng bút chì loại nào?
Nhóm chì cứng H và 2H dùng cho vẽ kỹ thuật; 3H đến 5H cho bản vẽ chi tiết; một cây mềm hơn HB cho nét bao đậm. Độ cứng giữa các hãng không hoàn toàn giống nhau, nên thử trên chính tờ giấy bạn dùng.
In bản vẽ A1 ra A3 thì tỉ lệ thay đổi thế nào?
A1 thu về A3 là nhân mọi cạnh với 0,5, nên bản vẽ 1:100 thành 1:200. Thước tỉ lệ đồ hoạ vẽ trên bản vẽ co theo nên vẫn đo đúng.
Tác giảCOLOR ME














